Chủ Nhật, 23/04/2017 - 08:45 Register  |    
TÀI SẢN NHÂN HIỆU



 


 






 

Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Thúc Kháng (chữ Hán: 黃叔抗; 1876–1947), tự Giới Sanh, hiệu là Mính Viên (茗園, Vườn chè) hay đôi khi được viết là Minh Viên, là một chí sĩ yêu nước nổi tiếng Việt Nam. Ông từng giữ chức Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ thời thuộc Pháp, Bộ trưởng Nội vụ, quyền Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nổi tiếng với tài năng, đức độ và lòng yêu nước, người dân Việt Nam thường nhắc đến ông với một tên gọi gần gũi: cụ Huỳnh!!!

Theo tên chữ Hán trên trang bìa quyển Tập diễn-văn của ông Hoàng-Thúc-Kháng, in năm 1926 thì đúng ra đọc (và viết) tên ông phải là Hoàng Thúc Kháng. Tuy nhiên, do kiêng húy Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng, họ Hoàng phải đổi thành Huỳnh. Đến nay các tỉnh miền Trung và Nam vẫn dùng âm Huỳnh. Tuy vậy, vẫn có sách dùng Hoàng Thúc Kháng.!

Thân thế

Ông sinh ngày 1 tháng 10 năm 1876, là người làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Tân Phước, phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam. Thân phụ ông là cụ ông Huỳnh Văn Phương, tự Tấn Hữu, xuất thân nhà nông hào nhưng cũng học qua Nho học, nhiều phen thi cử nhưng không đỗ. Thân mẫu ông là cụ bà Nguyễn Thị Tình, người làng Hội An nhưng cư ngụ làng Phú Thị (nay thuộc xã Tiên Châu, huyện Tiên Phước), em ruột Phó bảng Nguyễn Đình Tựu.

Tiến thân khoa cử

Nguyên tên ông là Huỳnh Văn Thước, là con trai thứ 3 và là con trai út trong nhà, nhưng vì 2 anh trai mất sớm, nên ông là người con trai duy nhất. Bởi sự kỳ vọng của song thân, từ nhỏ ông đã được rèn dạy để tiến thân bằng khoa cử.

Ông bắt đầu học chữ Nho từ năm 8 tuổi dưới sự dạy dỗ của người cậu ruột là Tế tửu quốc tử giám Nguyễn Đình Tựu, đổi tên làHuỳnh Hanh, tự là Giới Sanh. Năm 13 tuổi đã văn hay chữ tốt. Năm 1900, ông đậu Giải nguyên kỳ thi hương năm Canh Tý 1900, được xưng tụng là một trong Thập Ngũ Phụng Tề Phi của đất Quảng Nam xưa.

Năm Giáp Thìn 1904, ông đỗ Hội nguyên Hoàng giáp (tức Tiến sĩ thủ khoa).

Lãnh đạo phong trào Duy Tân

Ông cùng với Phan Bội ChâuPhan Chu Trinh và Trần Quý Cáp là những nhà lãnh đạo phong trào Duy Tân. Vì lý do đó, ông bị bắt trong năm 1908, rồi bị đày ở Côn Đảo suốt 13 năm, đến mãi năm 1919 mới được trả tự do.

Hoạt động trong Nghị viện Trung Kỳ

Năm 1926, ông đắc cử dân biểu rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Trong ba năm hoạt động ở Viện, ông cương quyết tranh đấu trong nghị trường, rồi nhân việc chống lại Khâm sứ Pháp, ông từ chức.

Nhà báo Tiếng Dân

Năm 1927, ông sáng lập tờ báo Tiếng Dân - một tờ báo được xuất bản tại Huế vào năm 1927 và bị chính quyền thời bấy giờ đình bản năm 1943.

Trọng trách của quốc dân

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông ra tham gia Chính phủ Liên hiệp lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Năm 1946, khi Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán, Huỳnh Thúc Kháng được cử làm Quyền Chủ tịch nước Việt Nam. Trên cương vị này, ông đã ra quyết định quan trọng trong Vụ án phố Ôn Như Hầu.

Thời gian này ông còn là Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam. Cuối năm 1946, ông là Đặc phái viên của Chính phủ vào cơ quan Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ tại Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

Ngày 21 tháng 4 năm 1947, ông lâm bệnh nặng và mất huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Làm theo tâm nguyện của ông, nhân dân đã an táng ông trên đỉnh núi Thiên Ấn. Nơi đây là đệ nhất thắng cảnh của Quảng Ngãi. Nhà lưu niệm Huỳnh Thúc Kháng tại xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước vẫn còn lưu giữ nhiều kỷ vật có giá trị, được một người cháu nuôi trong dòng tộc bảo quản.

Học hành rất rộng, chí khí rất bền.

Trong thư gửi vĩnh biệt cụ Huỳnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

"Cụ Huỳnh là người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước mà Cụ trước đây bị bọn thực dân làm tội, đày ra Côn Đảo. Mười mấy năm trường gian nan cực khổ, nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của Cụ chẳng những không sờn, mà lại thêm cương quyết.

Cụ Huỳnh là người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu. Cả đời Cụ Huỳnh chỉ phấn đầu cho dân được tự do, nước được độc lập, đến ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập Chính phủ ta mời Cụ ra. Tuy đã 71 tuổi, nhưng Cụ vẫn hăng hái nhận lời, Cụ nói: "Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, trai, gái, ai cũng ra sức phụng sự Tổ quốc"".

Tưởng nhớ

Để tưởng nhớ đến ông nhiều tỉnh thành và thành phố như Hà NộiThành phố Hồ Chí MinhQuảng Nam...có những con đường và ngôi trường THPT mang tên ông.

Ngày 19 tháng 2 năm 2013, nhà nước công bố quyết định truy tặng Huân chương Sao Vàng để ghi nhận công lao của ông đối với đất nước.[1]

Tác phẩm

Huỳnh Thúc Kháng đồng thời là một nhà thơ, một nhà nghiên cứu văn học và lịch sử. Ông còn có nhiều bút danh khác như: Sử Bình Tử, Tha Sơn Thạch, Khi Ưu Sinh, Xà Túc Tử, Thức Tự Dân, Ưu Thời Khách, Hải Âu, Ngu Sơn, Khách Quan... Tác phẩm chủ yếu còn giữ hiện nay là:

Bài thơ Bài ca lưu biệt của ông viết năm 1908, trước khi ông bị đày ra Côn Đảo, từng được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân miền Trung thời kỳ Pháp thuộc:

  • Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết,
  • Người ở đời đâu khỏi tiết gian nan.
  • Đấng trượng phu tuỳ ngộ nhi an,
  • Tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn.
  • Tiền lộ định tri thiên hữu nhãn,
  • Thâm tiêu do hứa mộng hoàn gia,
  • Bấy nhiên năm cũng vẫn chưa già.
  • Nọ núi Ấn, này sông Đà,
  • Non sông ấy còn chờ ta thêu dệt.
  • Kìa tụ tán chẳng qua là tiểu biệt,
  • Ngựa Tái ông hoạ phúc biết về đâu!
  • Một mai kia con tạo khéo cơ cầu,
  • Thảy bốn biển cũng trong vòng trời đất cả.
  • Ư bách niên trung tu hữu ngã,
  • Dẫu đến lúc núi sụp, biển lồi, trời nghiêng, đất ngả,
  • Tấm lòng vàng, tạc đá vẫn chưa mòn.
  • Trăng kia khuyết đó lại tròn!

Chú thích

  1. ^ Truy tặng Huân chương Sao Vàng cho cụ Huỳnh Thúc Kháng

Nguồn Wikipedia

 


 

 

 

 

 

 







Con người là vốn quý nhất của gia đình, xã hội, quốc gia vì có thể thực hiện tất cả mọi sự tốt đẹp, tác động và chi phối toàn thể xã hội ấy.
Việc Xây dựng Nhân Hiệu Việt và quản trị tài sản vô hình của Nhân Hiệu Việt là một vấn đề còn khá mới về lý luận và thực tiễn.
Làm thế nào để Xây dựng “Hòn gạch chuẩn” cho đời người, và phương pháp hiện thực hoá các tiêu chuẩn này,
nhằm giúp mỗi công dân tạo dựng được một cuộc sống ý nghĩa, hạnh phúc và thành đạt.
Dự án giáo dục và chuỗi các hoạt động về xây dựng Nhân Hiệu Việt được tổ chức nhằm mục đích
kiến giải, gợi mở, đề xuất những giải pháp tiếp cận, định hình những giá trị cốt lõi
giúp Nhân Hiệu Việt bắt kịp thang giá trị phổ quát của nhân loại đương thời về :


• Rèn luyện nhân cách, Phẩm chất trí tuệ, Năng lực cảm thụ, Năng lực học tập, Ý thức cộng đồng.
• Tầm nhìn cần có của Nhân hiệu Việt trong thế giới phẳng.
• Xây dựng Định vị nhân hiệu và bản sắc văn hoá của nhân hiệu
• Nắm được phương pháp phát triển bản thân (PDP)
• Học hỏi những phẩm chất tinh hoa của các dân tộc.


Dự án cũng đặt ra vấn đề : mỗi cá nhân, công dân, thanh niên, tri thức trẻ Việt đã có Kế hoạch xây dựng phát triển bản thân chưa ?
đâu là cơ sở lý luận cho vấn đề cốt yếu này ? Gia đình, Xã hội, Nhà trường và mỗi cá nhân đang đứng ở đâu  trong sứ mệnh này ?