Thứ Sáu, 18/08/2017 - 15:15   |    
TÀI SẢN NHÂN HIỆU



 


 






 

Bs Ngọc Phượng

Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng (sinh năm 1944) là một nhà y khoa nổi tiếng người Việt Nam. Bà nguyên là Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM), Viện trưởng Viện Tim TP. Hồ Chí Minh, đương kim Phó chủ tịch Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam. Bà cũng là một chính khách, từng là Đại biểu Quốc hội khóa VII, Phó chủ tịch Quốc hội khóa VIII, Phó chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại Quốc hội khóa 1992-1997...

Để tôn vinh những đóng góp và thành tựu của bà trong lĩnh vực sản phụ khoa, Nhà nước Việt Nam đã phong tặng cho bà danh hiệu Anh hung lao động và Thầy thuốc Nhân dân.

Thân thế và khởi đầu y nghiệp

Bà sinh năm 1944 tại Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) Nguyên quán của bà tại làng Tăng Nhơn Phú, tổng An Thủy, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định (nay là phường Tăng Nhơn Phú B, quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh).

Bà sinh ra trong một gia đình nghèo, cha làm công nhân đồn điền cao su của Pháp. Năm lên 8 tuổi, bà mắc một cơn bạo bệnh, nhờ một bác sĩ người Pháp chữa khỏi bệnh, từ đó hình thành quyết tâm sẽ trở thành bác sĩ hành nghề cứu người trong bà.

Cuộc sống gia đình khó khăn, cha mẹ đưa các anh chị em lên đồn điền cao su Chup (Kompong Chàm, Campuchia) mong kiếm sống. Riêng bà được bà ngoại bắt ở lại Biên Hòa để nuôi dạy.[3]. Nhờ sự cưu mang của bà ngoại, vài năm sau đó, bà đã thi đậu vào Trường Nữ Trung học Gia Long (Sài Gòn)

Để đạt được ước mơ vào trường y, bấy giờ chỉ đào tạo sinh viên bằng tiếng Pháp, bà bắt đầu tự học tiếng Pháp qua tài liệu. Do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, cha mẹ từng viết thư khuyên bà thi vào trường sư phạm, vốn dễ hơn và có nhiều ưu đãi hơn thời bấy giờ. Để chiều lòng cha mẹ, bà đành nộp đơn dự thi vào trường sư phạm. Mặc dù vậy, sau khi tốt nghiệp bậc Trung học, bà vẫn tham dự kỳ thi lớp dự bị y khoa và đứng hạng thứ 6 trong tổng số học sinh toàn miền nam thi vào Trường Đại học Y khoa Sài Gòn.

Bấy giờ, gia đình bà từ Chup trở về, thất nghiệp. Hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, bà từng có ý định bỏ học để đi làm phụ giúp gia đình. Tuy nhiên, nhờ sự động viên của thân phụ: “Con cứ đi học. Ngày nào ba còn sống thì con không phải bỏ học”, cùng với khát khao mạnh mẽ được làm bác sĩ cứu người, bà tiếp tục việc học. Ðể đạt được ước mơ và giúp gia đình của mình, bà đã làm bất cứ công việc lương thiện nào có thể kiếm ra tiền, từ việc đi giao gạo và than... cho đến dạy kèm; chỉ để dành thời gian học bài vào ban đêm.

Y nghiệp một đời

Khi bắt đầu học phân ngành, bà chọn theo ngành sản khoa. Bà tốt nghiệp Bác sĩ y khoa năm 1970. Tuy nhiên, bà vẫn tiếp tục học sau đại học thêm 4 năm trong hoàn cảnh khó khăn của gia đình. Năm 1973, bà lấy chứng chỉ tương đương Tiến sĩ y khoa Hoa Kỳ. Năm 1974, bà tốt nghiệp sau đại học chuyên ngành phụ khoa.


Bà là đại biểu Quốc hội các khóa VII, VIII, IX; Phó chủ nhiệm Uỷ ban y tế và xã hội của Quốc hội khóa VII, Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VIII; Phó Chủ nhiệm Uỷ ban đối ngoại của Quốc hội khóa IX.

GS Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng đã được đảm nhận các trọng trách:

Giám đốc Bệnh viện phụ sản Từ Dũ, Giám đốc Bệnh viện Tim của Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ nhiệm Bộ môn phụ sản, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà đã đóng góp nhiều công lao, trí tuệ cùng tập thể bác sĩ, y sĩ, công nhân viên xây dựng Bệnh viện Từ Dũ trở thành đơn vị Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, xứng đáng là bệnh viên chuyên khoa đầu ngành về sản phụ khoa, chỉ đạo tuyến 32 tỉnh, thành phố phía Nam.

Dù ở cương vị hoạt động xã hội nào, bà cũng say sưa nghiên cứu khoa học, luôn luôn là thày thuốc - mẹ hiền mang lại niềm vui, hạnh phúc cho nhiều gia đình Việt Nam và cho cả nước bạn.

Nhắc đến GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng người ta thường nhắc đến công trình “thụ tinh trong ống nghiệm” mà bà đã học hỏi, dày công nghiên cứu nhiều năm ở nước ngoài, bỏ cả tiền túi để mua thiết bị về Việt Nam áp dụng tại BV Từ Dũ. Công trình này đã đem lại niềm vui cho biết bao nhiêu gia đình hiếm muộn. Họ gọi bà là " Bà Tiên ", đã đem hy vọng đến cho gia đình họ

Tháng 8/1997, những phôi thai đầu tiên của Việt Nam đã đặt vào trong ống nghiệm thành công.

Ngày 30/4/1998, ba đứa bé từ trong ống nghiệm đã được chào đời, đúng ngày kỷ niệm 23 năm miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Bà là người đầu tiên mang kỹ thuật nội soi trong phụ khoa về Việt Nam. Nhờ sự giúp đỡ của Pháp, Khoa nội soi của bệnh viện Từ Dũ được thành lập và đến nay, công trình này được công nhận là đứng đầu trong nước về kỹ thuật nội soi phụ khoa.

Một số công trình nghiên cứu

Trong 25 năm nghiên cứu và thực tiễn bà đã hoàn thành xuất sắc hàng chục đề tài có giá trị như:

  • Ảnh hưởng của chất độc hóa học trên sức khỏe phụ nữ và các biện pháp khắc phục;
  • Phát hiện sớm điều trị ung thư cổ tử cung;
  • Áp dụng phương pháp miễn dịch me TBG để chuẩn đoán và theo dõi sự phát triển của thai nhi;
  • Đặc điểm sinh lý của phụ nữ tuổi mãn kinh…

Vinh danh

1994 Bà được Tổng thống Pháp ký phong hàm giáo sư y khoa

Năm 2000, GS Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động.


 

 

 

 

 

 







Con người là vốn quý nhất của gia đình, xã hội, quốc gia vì có thể thực hiện tất cả mọi sự tốt đẹp, tác động và chi phối toàn thể xã hội ấy.
Việc Xây dựng Nhân Hiệu Việt và quản trị tài sản vô hình của Nhân Hiệu Việt là một vấn đề còn khá mới về lý luận và thực tiễn.
Làm thế nào để Xây dựng “Hòn gạch chuẩn” cho đời người, và phương pháp hiện thực hoá các tiêu chuẩn này,
nhằm giúp mỗi công dân tạo dựng được một cuộc sống ý nghĩa, hạnh phúc và thành đạt.
Dự án giáo dục và chuỗi các hoạt động về xây dựng Nhân Hiệu Việt được tổ chức nhằm mục đích
kiến giải, gợi mở, đề xuất những giải pháp tiếp cận, định hình những giá trị cốt lõi
giúp Nhân Hiệu Việt bắt kịp thang giá trị phổ quát của nhân loại đương thời về :


• Rèn luyện nhân cách, Phẩm chất trí tuệ, Năng lực cảm thụ, Năng lực học tập, Ý thức cộng đồng.
• Tầm nhìn cần có của Nhân hiệu Việt trong thế giới phẳng.
• Xây dựng Định vị nhân hiệu và bản sắc văn hoá của nhân hiệu
• Nắm được phương pháp phát triển bản thân (PDP)
• Học hỏi những phẩm chất tinh hoa của các dân tộc.


Dự án cũng đặt ra vấn đề : mỗi cá nhân, công dân, thanh niên, tri thức trẻ Việt đã có Kế hoạch xây dựng phát triển bản thân chưa ?
đâu là cơ sở lý luận cho vấn đề cốt yếu này ? Gia đình, Xã hội, Nhà trường và mỗi cá nhân đang đứng ở đâu  trong sứ mệnh này ?