GS.TS.BS Nguyễn Chấn Hùng – Y Đạo

Mục lục

Cuộc đời và Sự nghiệp

GS – BS Nguyễn Chấn Hùng là một chuyên gia về ung bướu của Việt Nam. Ông là một vị bác sĩ được người đời quý trọng về cả y lý, y thuật lẫn y đức. Năm 1970, ông tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn, chuyên khoa Ung thư. Lý do ông chọn khoa Ung thư vì nhận thấy đó là “căn bệnh trên mọi căn bệnh”. Năm 1972 (mới 28 tuổi) ông trình luận án tiến sĩ. Năm 30 tuổi, ông đồng thời làm bác sĩ ở Bệnh viện Ung bướu (Gia Định) vừa dạy học ở Đại học Y khoa Sài Gòn, là giảng viên duy nhất về ung thư học trong nhà trường. Năm 1990, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Bệnh viện Ung bướu cho đến nghỉ hưu vào năm 2009.

Bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng là người có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng và phát triển chiến lược phòng chống ung thư ở Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề, trên cả cương vị của thầy thuốc trong phòng khám và thầy giáo trên bục giảng, ông đã đồng hành với biết bao vui buồn cùng người bệnh, đã cứu sống không biết bao nhiêu mạng người, cũng như mang lại sự sống, hạnh phúc cho biết bao gia đình có người thân mắc bệnh. Hơn nửa thế kỷ qua, ông luôn tâm huyết truyền đạt những kinh nghiệm có được của mình cho các thế hệ bác sĩ trẻ cũng như chung tay với cộng đồng trên con đường phòng chống bệnh ung thư.

Trong bài phỏng vấn này, thông qua việc giải thích ý nghĩa biểu tượng con rắn và cây gậy của ngành y, cũng như câu chuyện các thần Hermes, Hygeia, bác sĩ chia sẻ nhiều bài học sâu sắc về y đức của người bác sĩ và triết lý của nghề. Qua đó thấy rằng, đằng sau một vị bác sĩ có y nghiệp to lớn là một nền tảng y đạo, y đức rất thâm sâu.

Một chia sẻ rất sâu sắc của bác sĩ đó là: “Một người thầy của tôi ở Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, người trực tiếp dẫn tôi vào ngành Ung bướu là GS Đào Đức Hoành đã dạy tôi rằng: “Thầy thuốc phải học cái gương của cái giếng”. Hồi đó, tôi chưa hiểu ý của thấy nói nhưng bây giờ thì tôi đã hiểu. Cái giếng, ai muốn múc nước thì múc. Múc bao nhiêu nước, giếng vẫn đầy và trong. Ý nói rằng: chúng ta càng lo cho người bệnh càng có kinh nghiệm phong phú. Làm người, mình cũng nên đòi hỏi ít thôi, cái chính là vẫn làm được việc. Làm người, nếu có chút tài, và cả tài sản, thì nên chia sẻ, nên đóng góp, vậy là còn hoài, thậm chí được thêm. Chúng ta luôn nghĩ, người bệnh cần chúng ta giống như cái giếng càng múc càng đầy. Học theo cái giếng để người thầy thuốc thực hiện nghề của mình một cách tốt đẹp. Đây cũng là lời mà tôi muốn chia sẻ với các đồng nghiệp trẻ và sinh viên của tôi”

Đông Quân

1970
Tốt nghiệp ĐH Y Khoa Sài Gòn
1976 - 1985
Trưởng khoa Ung bướu Bệnh viện Bình Dân
1990 - 2007
Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM
1990 - 2009
Trưởng Bộ môn Ung thư học

ĐH Y Dược TP.HCM

1990 - nay
Trưởng Bộ môn Ung bướu học

ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch TP.HCM

2010 - nay
Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam

ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch TP.HCM

Hiệu trưởng Danh dự ĐH Phan Châu Trinh

Tác phẩm tâm huyết của Thầy

Thật ý nghĩa trong một ngày đầu năm mới, được cùng bạn đọc chia sẻ với tác giả đã miệt mài giúp chúng ta đi vào cuộc du hành sinh học để khám phá sự kỳ diệu của cuộc sống. Một nhà khoa học với tâm hồn nghệ sĩ, ẩn giấu bên trong vốn tri thức rộng và uyên bác về văn hoá, làm nên giọng điệu gần gũi, tung tẩy, tài hoa. Một người viết có trách nhiệm với khoa học và đối với đông đảo quần chúng. Phải phấn đấu rất dài mới có được giọng điệu đó. Ông đã giúp cho mỗi người tìm thấy một thái độ sống tích cực mà ông hay gọi là “sống lành, sống kỹ”. Những bài viết của ông vào thứ hai hàng tuần trên Sài Gòn Tiếp Thị đã trở thành một cuộc hò hẹn được nhiều người mong chờ, một món nợ với độc giả khó mà dứt được. Món nợ nhân sinh mà tác giả đã tự nguyện đón nhận để chia sẻ với bạn đọc những đòi hỏi tha thiết, giúp mọi người có được chìa khoá để khám phá cuộc sống xung quanh, vượt lên bệnh tật, làm chủ cuộc đời. Cũng từ đây, chúng ta có được một “bỉnh bút Nguyễn Chấn Hùng. Qua cuốn sách, người đọc có thể hiểu được rằng với căn bệnh ung thư, 1/3 có thể phòng ngừa không cần điều trị”. BS Phạm Xuân Dũng. “Phải có trái tim từ tâm, bao dung lắm mới khiến cho người đọc có thể mỉm cười, nụ cười vượt lên trên tất cả mọi bệnh tật”. PGS.TS.DS Nguyễn Hữu Đức “Thầy Chấn Hùng là người có thể giúp cho người bệnh biết lạc quan cả khi đối mặt với cái chết”. BS Võ Thị Bạch Sương.

“Nhàn đàm về giáo dục” (thường gắn liền với các trăn trở của chuyên gia Phan Chánh Dưỡng) là những suy tư sâu sắc về việc giáo dục toàn diện một con người thông qua sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội.

Giáo dục không chỉ là truyền thụ kiến thức mà là quá trình giúp con người tìm thấy chính mình, phát triển nhân cách, và cần thay đổi phương pháp từ tiếp nhận sang tư duy, trao đổi thông tin.

Các khía cạnh chính trong nhàn đàm về giáo dục:

Sự phối hợp 3 môi trường: Giáo dục hoàn thiện một con người cần sự đồng bộ giữa gia đình (nền tảng), nhà trường (kiến thức, kỷ luật) và xã hội (môi trường thực tiễn). Trong đó giáo dục gia đình và giáo dục cấp 1 là quan trọng nhất.

Mục tiêu giáo dục: Hướng tới việc hình thành nhân cách, khả năng tự học và tư duy sáng tạo thay vì chỉ chú trọng điểm số hay kiến thức thuần túy.

Quan điểm về người dạy: Người làm giáo dục cũng cần được giáo dục và phải liên tục học hỏi, đổi mới tư duy.

Trải nghiệm thực tế: Giáo dục cần gắn liền với kinh nghiệm thực tiễn, giúp con người thích ứng với những biến động của xã hội và cuộc sống.

Cuốn sách “Nhàn đàm giáo dục” của Phan Chánh Dưỡng tập hợp các quan điểm từ năm 1981-2003, thể hiện góc nhìn của một người từng là thầy giáo sau đó làm kinh tế về việc phát triển giáo dục Việt Nam.

“Nhàn đàm về giáo dục” (thường gắn liền với các trăn trở của chuyên gia Phan Chánh Dưỡng) là những suy tư sâu sắc về việc giáo dục toàn diện một con người thông qua sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội.

Giáo dục không chỉ là truyền thụ kiến thức mà là quá trình giúp con người tìm thấy chính mình, phát triển nhân cách, và cần thay đổi phương pháp từ tiếp nhận sang tư duy, trao đổi thông tin.

Các khía cạnh chính trong nhàn đàm về giáo dục:

Sự phối hợp 3 môi trường: Giáo dục hoàn thiện một con người cần sự đồng bộ giữa gia đình (nền tảng), nhà trường (kiến thức, kỷ luật) và xã hội (môi trường thực tiễn). Trong đó giáo dục gia đình và giáo dục cấp 1 là quan trọng nhất.

Mục tiêu giáo dục: Hướng tới việc hình thành nhân cách, khả năng tự học và tư duy sáng tạo thay vì chỉ chú trọng điểm số hay kiến thức thuần túy.

Quan điểm về người dạy: Người làm giáo dục cũng cần được giáo dục và phải liên tục học hỏi, đổi mới tư duy.

Trải nghiệm thực tế: Giáo dục cần gắn liền với kinh nghiệm thực tiễn, giúp con người thích ứng với những biến động của xã hội và cuộc sống.

Cuốn sách “Nhàn đàm giáo dục” của Phan Chánh Dưỡng tập hợp các quan điểm từ năm 1981-2003, thể hiện góc nhìn của một người từng là thầy giáo sau đó làm kinh tế về việc phát triển giáo dục Việt Nam.

Những hình ảnh hoạt động của Thầy
với Nhân giáo dưỡng và Cộng đồng

Mô hình Định vị Nhân Hiệu

Giáo dục phải thắp lên được lửa khát vọng – Làm người rồi mới sinh tồn.

* Nhân giáo dưỡng như vào bếp, làm bếp, đi chợ, chuẩn bị bữa cơm gia đình mỗi ngày


Tôi thấy là, học sinh của mình mới quan trọng. Khi đặt trọng tâm khác thì ắt có phương pháp khác.

Hiếu Từ Tín Lễ 
Cần Kiệm Phục Thực 
Chí Nhân Dũng Nhẫn
Trí Sáng Thời Không

“Nhân – giáo – dưỡng tạo thành những giá trị để con người có sứ mệnh phải làm gì, tạo ra những giá trị gì và kiến tạo những điều tốt đẹp cho cộng đồng xã hội”.

– Ông là một trong những Nhà kiến tạo Khu đô thị Nam Sài Gòn, Khu Chế Xuất Tân Thuận, Hiệp Phước,…Khu đô thị Phú Mỹ Hưng ngày nay.

– Giảng viên, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, lĩnh vực quản lý và Tiếp thị địa phương. Ông có bằng Cử nhân Vật Lý ngành Điện tử của Viện Đại học Sài Gòn, Phân khoa Khoa học. Ông là thành viên Nhóm Tư vấn Kinh tế cho Thủ Tướng. Năm 2003-2004 ông là nghiên cứu viên tại Trung tâm Doanh nghiệp và Chính phủ của Trường Quản lý Nhà nước John. F. Kennedy thuộc Đại học Harvard.

– Hiện là Giám đốc Quỹ Cộng đồng Đinh Thiện Lý

Lục Định Lập Thân Dựng Nghiệp

1/- Định dạng (Xác định tầm dóc vấn đề (đề án) trước hiện trạng kinh tế xã hội đang diển ra)

Nhận dạng bối cảnh đề án, các yếu tố khách quan liên quan với mục tiêu (quá khứ hiện tại và tương lai suốt dòng đời đề án). Xác định các yếu tố liên quan với mục tiêu tối hậu.

2/- Định vị (so sánh vị trí vai trò khả năng của ta đối với yêu cầu mục tiêu)

Xác định các yếu tố, điều kiện, khả năng ta đả có và nhửng gì ta chưa có được. Tìm các giải pháp khắc phục những khó khăn mà ta phải vượt qua. (Từ đó lấy quyết định cuối cùng).

3/- Định hướng chiến lược (Đưa ra tầm nhìn, mục tiêu, phương châm hành động)

Phân tích mọi khả năng để tìm ra phương hướng chiến lược và xây dựng bước đi cho từng giai đoạn cụ thể (thời gian, không gian), xác định đâu là lực cản, lực đẩy. Đề ra một phương hướng nguyên tắc tổ chức xây dựng bộ máy, xây dựng lực lượng (vốn, con người v.v..) nhầm tiến đến mục tiêu cuối cùng.

4/- Định lượng kế hoạch thực hiện (trên cơ sở chiến lược xây dựng kế hoạch hành động cụ thể

Xây dựng kế hoạch giải pháp thực hiện dự án cụ thể cho từng mục tiêu của từng giai đoạn (nhân lực, tài lực, đề ra điều kiện, phương pháp tiến hành, thời gian hoàn thành cho từng công đoạn v.v…

5/- Định chuẩn ( đề ra tiêu chuẩn giá trị)

Xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng công việc, nhầm kiểm tra hướng phát triển của đề án, kịp thời điều chỉnh kế hoạch, đảm bảo kế hoạch được thực hiện đúng yêu cầu mục tiêu. Đồng thời trên cơ sở đó hoàn thiện tổ chức, xây dựng chế độ thưởng phát công minh.

Ngũ Định nêu trên là phương pháp tư duy giúp chúng ta “Nhập Thế” vào đời sống xã hội đương đại như một công dân tích cực vừa sống với trách nhiệm với “gia đình ta” và “Xã hội” con người. Và gìn gửi môi trường “Thiên Nhiên”.

Ở tầm cao hơn khi chúng ta đã có những thành đạt nhất định trong đường đời. Nhất là không còn bị vướng bận lo âu với cuộc sống vật chất cho “gia đình” Ta có thể bước vào cuộc sống “Tâm thân” tự do, thanh thản tâm trí với một tuệ giác cao hơn trên nền tảng dưới đây:

6/- Định tính nhân cách

Đó là xác định giá trị, nhân cách, nhân sinh quan của ta về: người với Người (đó là “Nhân Đạo”), người với Thiên Nhiên (đó là “Thiên Đạo”).

Lục định (6 điều nêu trên). Cấu thành một thể thống nhất. tạo nên một hệ thống quan sát, đánh giá, tư duy, xây dựng nên môt chuẩn mực hành động và không ngừng tự hoàn thiện chính mình và tích cực đóng góp cho xã hội, từ đó chủ động điều hướng vận mệnh chúng ta.

7/- Thất Định Xã Thân Cho Hoài Bão

Khi con người nhập thế kinh qua Lục Định lập thân dựng nghiệp, kinh nghiệp cuộc sống đủ phong phú, trãi nghiệm những thành bại, tuổi đời đã đến ngưỡng ngũ thập tri thiên mạng như người xưa từng nêu. Cuộc sống vật chất có thể đã được an vị. Lúc nầy chúng ta có thể bước vào giai đoạn nhận dạng lại chính thân tâm của ta với 3 khuynh hướng sau:

  • Chuẩn bị truyền thừa cho thế hệ tiếp theo.
  • Xã thân cho, một sứ mệnh, một tính ngưỡng thiêng liêng v. v… góp phần xây dựng cộng đồng xã hội và môi trường thiên nhiên vững bền.
  • Vui thú với cuộc sống tinh thần thân tâm an lạc.

8/- Bát Định Tu Thân Dưỡng Tính

Lúc nầy tuổi đời của chúng ta đã bước vào thất thập cổ lai hy trở lên, thể lực sẻ không còn nhanh nhạy. Nên phải gìn giử sức khỏe tráng kiện, để tâm tính hoan lạc, trí tuệ minh mẩn. Luôn đọc sách viết sách (nếu có thể). Cố giử được mối liên hệ với kiến thức mới, thế hệ con người mới đương thời. Tồn tại với sự thể hiện hửu ích của thế hệ chúng ta cho đời sau.

9/- Cữu Định Chân Tâm – Qui Vị

Buôn bỏ tất cả quá khứ, để lại tất cả cho con người tương lai, với tinh thần viên mãn, đón nhận một trải nghiệm hoàn thành một kiếp sống con người. Giử lấy “Chân Tâm” (một tinh thần thỏa mãn hân hoan). “Qui Vi” (trở về vị trí vốn là của ta).

Nhân” là phạm trù đạo đức của Nho gia và “từ” là tinh thần yêu thương mọi sinh linh của nhà Phật.
Chữ “nhân” của Nho gia theo nghĩa hẹp và cụ thể được Khổng Tử diễn giải cho các học trò của mình được sách vở ghi lại như sau:

Nhân là kìm chế mình để trở về với lễ (khi trả lời Nhan Hồi).
Nhân là điều gì mình không muốn thì đừng áp đặt cho người khác, “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (khi trả lời Trọng Cung).
Nhân là yêu người (Khi trả lời Phàn Trì).

Khổng Tử nói “có thể làm được năm điều dưới đây với thiên hạ là có nhân” đó là: Cung kính, khoan dung, giữ chữ tín, chăm chỉ siêng năng, ra ơn cho mọi người. Ngoài ra, ông nói: Người có nhân, muốn thành đạt thì cũng giúp cho người thành đạt.
Tất cả câu trả lời trên đều cụ thể cho từng người, nội dung hàm chứa tính giáo dục con người cụ thể.

Chữ “nhân” theo nghĩa hẹp rất rộng, do đó người nhà Nho sau này giải thích chữ “nhân” là lý của yêu thương, là đức của tâm hay là làm điều nhân là giữ toàn tâm đức v.v…
Theo nghĩa rộng, chữ “nhân” được Khổng Tử, Mạnh Tử xem như tư tưởng cốt lõi của Nho giáo (giáo ở đây không phải là tôn giáo, mà là giáo hóa con người).

Do đó đạo đức của Nho giáo cũng có thể gọi là đạo của chữ nhân, khi nói “nhân giả nhị nhân giả” (chữ “nhân” chiết tự ra gồm chữ “nhân” là “người” và chữ “nhị” là “hai”).
Nghĩa là: Nhân là mối quan hệ giữa người và người. Đây chính là mọi quan hệ của con người trong xã hội. Nếu xử lý hài hòa các mối quan hệ trên thì xã hội sẽ trật tự, trên dưới hài hòa, và con người được sống trong cảnh thái bình. Do đó nhân chính là đạo làm người vậy.

Từ luận giải chữ “nhân” nghĩa rộng trên, chúng ta thấy mối quan hệ giữa người và người đầu tiên phải được xử lý, phải được quy phạm đó là con cái và cha mẹ.

Chúng ta ai cũng biết khi chào đời người gần gũi lo toan cho ta là đấng sinh thành (cha mẹ). Do đó, theo Nho giáo đây là mối quan hệ đặc biệt ưu tiên trong mọi mối quan hệ xã hội. Quy phạm về mối quan hệ này Nho giáo gọi là “đạo hiếu” (Theo Nho giáo, bách hạnh hiếu là đầu, làm người phải đặt chữ hiếu lên trên hết). Tiếp theo là mối quan hệ với anh em là chữ “đệ”, mối quan hệ với bạn bè là chữ “nghĩa”, mối quan hệ với vua là chữ “trung” v.v…

Từ đó triển khai ra các phạm trù đạo đức khác để tu thân, để rèn luyện đức tính con người: lễ, nghĩa, liêm, sỉ, trí, nhân (nghĩa hẹp), dũng v.v…Thật ra những phạm trù đạo đức nêu trên (trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín v.v…) chỉ là tên gọi của các mối quan hệ hay những thái độ, cư xử, quan điểm, lẽ sống của con người trong xã hội.

Nhưng nội dung hàm chứa bên trong của nó tùy theo thời đại khác nhau lại có ý nghĩa khác nhau. Ví dụ chữ “hiếu” là một phạm trù đạo đức nói lên mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ.
Phạm trù này vĩnh viễn tồn tại trong mọi xã hội từ xưa đến nay và cả mai sau, nhưng nội dung của chữ “hiếu” thì theo từng thời đại khác nhau có những nội dung khác nhau.
Như ngày xưa hiếu là luôn vâng lời cha mẹ, nuôi dưỡng cha mẹ, phải sinh con cái để nối dõi tông đường. Khi cha mẹ qua đời, con phải cư tang bằng hình thức sống quanh mộ đói rét ba năm không được đi đâu, không được vui vẻ để tỏ nỗi khổ đau thương nhớ mẹ cha…

Nhưng cũng có nhà Nho cho rằng “đại hiếu là làm rạng rỡ tông đường, kế đến là không làm gì nhục gia tông, thứ ba mới đến nuôi nấng cha mẹ”…
Còn ngày nay, chúng ta phải có nội dung phù hợp cho chữ “hiếu”. Chữ “trung” cũng thế, không thể giữ nội dung là trung với vua mà phải là trung với nước, trung với dân v.v…
Ngày xuân, có đôi điều mạn đàm về ý nghĩa chữ “nhân”, qua đó người viết hy vọng đưa ra được một nội dung rèn luyện đạo đức cá nhân cho mỗi người mà trong xã hội ngày nay dường như nhiều người đã quên lãng.

PHAN CHÁNH DƯỠNG, Nguồn DNSG

 

Tập hồi ký của chuyên gia kinh tế Phan Chánh Dưỡng là nguồn tài liệu quý giá, cẩm nang thuyết phục về tư duy sáng tạo, cách làm đột phá và tinh thần cống hiến cho xã hội của Phan Chánh Dưỡng cùng những trí thức thế hệ ông trong Nhóm Thứ Sáu – nghiên cứu và cố vấn chính sách kinh tế.

Sống Hạnh Phúc Kiến Tạo

X