Gia tộc GS Nguyễn Lân

Mục lục

Cuộc đời và Sự nghiệp

Dân gian có câu “Con hơn cha là nhà có phúc”. Dòng họ Nguyễn Lân có thể nói là “danh gia vọng tộc”, các thế hệ đều có những nhà khoa học, trí thức nổi tiếng. Văn hóa nêu gương, người đi trước dìu dắt người đi sau xây đắp nên hình mẫu một gia đình hiếu học, tài hoa. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần có cuộc trò chuyện với GS, TS, Nhà giáo Nhân dân (NGND) Nguyễn Lân Dũng xung quanh chủ đề này…

 

1. Giáo dục bằng nêu gương

✅PV: Thưa GS, theo ông, sự thành công của anh Hiếu và chị Thảo bắt nguồn từ đâu?
🔸️GS, TS, NGND Nguyễn Lân Dũng: Đầu tiên, chắc chắn phải từ sự nỗ lực của chính bản thân các cháu. Ngoài ra không thể thiếu sự giáo dục của gia đình. Tôi nghĩ tại sao con tôi rất đáng yêu và đáng tự hào vì nhiều lẽ:
Lẽ thứ nhất vì bố mẹ sống tử tế. Bố mẹ sống tử tế thì con mới sống tử tế được. Hiếu sinh năm 1972, có hoàn cảnh ra đời rất đặc biệt. Có bầu chưa được một tháng, vợ tôi đã xung phong đi chiến trường Quảng Trị, tôi thì tham gia Chiến dịch Đường 9-Nam Lào. Chúng tôi vẫn giữ bức ảnh chụp vợ tôi làm nhiệm vụ ở chiến trường. Hiếm trường hợp nào đang mang thai mà xung phong đi chiến dịch, không những thế lại là con gái một bộ trưởng, mọi điều kiện đều đang rất tốt. Nhưng vợ tôi chỉ nghĩ đơn giản rằng, mình là bộ đội mà không đi chiến trường thì vô lý. Tôi lúc bấy giờ lo lắm, đến khi bụng rất to, vợ tôi mới trở về sinh cháu. Bức ảnh và câu chuyện đó khiến Hiếu sau này khi lớn lên, thấy mẹ mình sống như thế, tự cháu suy nghĩ mình phải sống thế nào cho xứng đáng…
Hơn nữa, truyền thống gia đình cũng ảnh hưởng rất nhiều. Ông nội cháu là NGND Nguyễn Lân, ông ngoại là Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, cả hai đều sống rất giản dị, trung thực. Các cháu thấy ông nội, ông ngoại, bố mẹ sống tử tế thì các cháu sẽ tự giác sống tử tế. Tôi thấy cuộc sống không cần nhiều tiền, chỉ cần sống bằng tiền lương. Sống giản dị, làm công việc mình yêu thích, mình có năng lực thì sẽ không nghèo, làm gì cũng có thêm tiền. Bạn thấy đấy, tôi có thiếu gì đâu? Nhà cũ của tôi cả 4 tầng đều là sách, bây giờ tôi không biết sẽ dùng làm gì, có lẽ sẽ tặng một thư viện nào đó. Tôi chỉ mang đến đây những quyển mà tôi đang làm việc. Quần áo, nhà cửa, sách vở, của cải… đủ dùng là tốt lắm rồi.

Lẽ thứ hai là chúng tôi cho các cháu sức khỏe. Trong những lúc khó khăn nhất của cuộc kháng chiến, vợ chồng tôi vẫn bảo đảm cho các cháu đủ dinh dưỡng, luôn khuyến khích các cháu tập thể dục, rèn luyện sức khỏe. Lẽ thứ ba là các cháu được động viên học với một động cơ tích cực. Những lần đi nói chuyện, tôi vẫn hỏi các cháu học phổ thông là “học để làm gì?”. Nhiều cháu trả lời học để đỗ đại học, học để sau này đỡ khổ… tôi bảo không phải, học để trở thành con người độc lập, tự do! Bác Hồ dạy: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Điều đó không chỉ đúng với dân tộc mà đúng với từng con người. Trước hết là độc lập, tự do trong suy nghĩ, đủ bản lĩnh để không bị gò ép bởi người khác. Tự do lựa chọn con đường đi của chính mình. Tự do kiến tạo nên tương lai của mình. Tự chịu trách nhiệm về các hành vi của mình. Tự do thức tỉnh theo mọi điều mình hằng mơ ước. Vì thế, chúng tôi thường nhắc nhở các cháu học cho mình, không phải học cho thầy cô, không phải học cho bố mẹ.
Tôi nghĩ rằng các bậc bố mẹ nên quan niệm hạnh phúc của các con mình là hạnh phúc của chính mình. Và muốn có hạnh phúc đó thì hãy tạo cho con những điều kiện tốt nhất để tiếp thu tri thức, đâu phải là tiền bạc. Chúng tôi đều là những cán bộ khoa học, đều không dư dả về tài chính nhưng luôn cố gắng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các con học tập, đặc biệt bồi dưỡng cho các cháu ý thức tự vươn lên. Thảo từ khi học phổ thông đã được giải quốc tế về sinh học. Cháu đi Mỹ học tiến sĩ bằng học bổng. Hiếu thì đi Pháp. Tôi nhớ khi đó gia đình quá nghèo, thầy của Hiếu bảo với vợ chồng tôi là cố mua cho cháu cái vé máy bay. Sau này, theo tự thuật của cháu mới biết có lúc cháu vừa đi rửa bát thuê, vừa đi học. Hai cháu học bằng chính sức của các cháu, không phải bằng sự giúp đỡ tài chính của bố mẹ hay của ai khác.

2. Cho con tri thức, chớ cho tiền

✅PV: Vậy thưa GS, những bậc cha mẹ cần lưu ý điều gì khi nuôi dạy con trẻ? Tôi cũng thấy nhiều ý kiến cho rằng có những mốc thời gian phát triển quan trọng trong cuộc đời của đứa trẻ mà cha mẹ cần hết sức lưu tâm. Ông nghĩ sao về điều này?

🔸️GS, TS, NGND Nguyễn Lân Dũng: Tôi thấy một đứa trẻ từ lúc sinh ra đã phải quan tâm rồi, và quá trình này liên tục, không có mốc thời gian nào là quan trọng hay không quan trọng hết. Ngoài sức khỏe, cần quan tâm đến chuyện học hành. Chúng tôi không bao giờ nhắc cháu phải nhất lớp. Các bố mẹ hay thích cháu phải nhất lớp, điểm cao, tôi chỉ xem cháu có thích học không, làm sao để các cháu thích học, tạo mọi điều kiện cho cháu được học. Hiếu đỗ 3 trường đại học, nhưng khi đó, bà nội và bà ngoại cháu bị ốm, cháu phải chăm sóc nên cháu tự chọn trường y. Còn con gái tôi, ai cũng bảo tại bố làm đầu ngành vi sinh vật học nên muốn nhét con vào. Kỳ thực tôi có bắt cháu đâu, cháu đến phòng thí nghiệm, tự soi kính hiển vi và thấy hóa ra vi sinh vật không đơn giản, những xạ khuẩn, vi tảo thật đẹp lắm, nên cháu tự thích, tự chọn ngành. Giờ cháu đang đào tạo thế hệ sau bằng niềm vui, sự thích thú của cháu.

Cho nên, con cái giỏi hơn mình là chuyện hoàn toàn khả thi. Muốn như thế, mình phải có ý thức để cho con cái giỏi hơn mình, đừng nghĩ mình giỏi hơn các con, cái gì mình nói là các con phải nghe theo và đừng quyết định hộ cuộc đời các con. Khi gặp một chuyện gì hay, tôi đều kể cho các con nghe, như trường hợp bạn Trần Hồng Giang ở Nam Định. Giang bị tai nạn, liệt cả chân cả tay. Thấy Giang nằm thu lu trên giường, tôi nghĩ cuộc đời kết thúc ở đấy. Nhưng tôi không ngờ, Giang không những tự học tốt nghiệp cấp 3, có tiếng Anh bằng C mà hiện còn phụ trách hai trang web của giới văn nghệ Nam Định, sử dụng máy tính rất thành thạo để sáng tác thơ văn. Thế thì anh gõ máy tính bằng cách nào? Giang ngậm đũa vào miệng và dùng má đẩy con chuột. Không ai ngờ anh làm được việc đó và trở thành một nhà văn có tiếng. Chỉ với những tấm gương như thế, tôi kể cho các con nghe, động viên các cháu rằng mình được sung sướng, lành lặn, được học hành tử tế thì phải vượt lên! Biết bao nhiêu gương tốt xung quanh ta và tôi nghĩ sự nghiệp giáo dục phải thay đổi. Đừng cố nhồi nhét kiến thức mà dạy cho trẻ biết ham kiến thức, tự tìm kiếm kiến thức và chủ yếu là đào tạo con em mình thành những người tử tế.

Tôi thấy hạnh phúc nhất không phải là giàu có mà là gia đình yên ấm, con cái tử tế, yêu thương bố mẹ. Tôi thấy rất nhiều người giàu có nhưng không có được điều ấy. Vậy tiền nhiều để làm gì? Tôi thấy tiền nhiều, con cái dễ hư bởi chúng nghĩ tiền nhiều thì để cho chúng chứ để cho ai mà chúng không tiêu, từ đó triệt tiêu sự phấn đấu. Cho nên tôi tự đặt ra một mục tiêu là: “Sống khỏe, chết nhanh, ít của để dành, nhiều người thương tiếc”. Quan trọng là đừng sống như tồn tại, sống phải có ý nghĩa, sống phải cống hiến, sống để sau này người ta biết rằng mình đã từng sống ở trên đời này.

3. “Các con giỏi hơn tôi”

✅Phóng viên (PV): Thưa GS Nguyễn Lân Dũng, ông và bà Nguyễn Kim Nữ Hiếu có hai người con là Nguyễn Lân Hiếu và Nguyễn Kim Nữ Thảo-đều là những nhà khoa học đang có nhiều cống hiến. Nhiều người nói anh Hiếu, chị Thảo giỏi hơn bố mẹ, ông nghĩ sao về đánh giá này?

🔸️GS, TS, NGND Nguyễn Lân Dũng: Đúng quá chứ! Tôi là NGND, vợ tôi là Thầy thuốc Nhân dân, cả hai chúng tôi đã có quá trình phấn đấu rất tốt. Nhưng thực tế, con chúng tôi còn hơn cha, hơn mẹ. Tại sao như vậy? Tôi có hai đứa con, Nguyễn Lân Hiếu là anh cả. Hiếu thì chuyên sâu về tim mạch, hiện là Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội-một bệnh viện lớn. Vợ tôi thấy rất thú vị khi hằng tuần theo dõi chương trình truyền hình trực tiếp của các bác sĩ Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trợ giúp các bác sĩ ở bệnh viện nhỏ, vùng sâu, vùng xa, và Hiếu thường xuyên điều khiển những cuộc họp đó. Vợ tôi bảo được hiểu, học hỏi thêm rất nhiều điều dù trước đây, vợ tôi từng là Phó giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, một trong những bệnh viện lớn của đất nước.

Con thứ hai của tôi là Nguyễn Kim Nữ Thảo, hiện là giảng viên của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiên cứu cùng chuyên ngành với tôi. Khi tôi sang Mỹ xem Thảo bảo vệ luận văn tiến sĩ, tôi giật mình vì cùng ngành nhưng nhiều thứ tôi không hiểu. Thảo được học về sinh học phân tử, điều mà tôi không được đào tạo và ở nước mình trước đây còn thiếu điều kiện để thực hiện. Chính vì thế nên sau này, tôi quyết tâm tìm cách có đủ các trang thiết bị cần thiết về Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội)-nơi tôi công tác để các bạn trẻ có thể tiếp cận được với sinh học phân tử, có thể xác định gen, phân loại vi sinh vật nhờ nắm được trình tự gen, những thứ mà thế hệ tôi chưa làm được.

Tôi tự hào về hai con bởi các cháu sống tử tế, phấn đấu với tất cả sức lực của tuổi trẻ để trở thành những trí thức mà như tôi nói là đã có những mặt giỏi hơn bố mẹ. Tất nhiên, chúng tôi nhiều tuổi hơn thì đã có nhiều cống hiến hơn, nhưng về từng lĩnh vực thì lớp trẻ giỏi hơn. Lấy riêng ví dụ về ngoại ngữ, tôi cũng được khen là sử dụng được 4 ngoại ngữ, đã in cuốn Từ vựng tiếng Anh tối thiểu, sắp in cuốn Từ vựng tiếng Pháp tối thiểu, nhưng quả thực tiếng Anh không giỏi như các cháu. Chứng kiến Hiếu và Thảo làm việc ở những hội thảo quốc tế, các cuộc họp trực tuyến, tôi phục lắm vì hai cháu sử dụng ngoại ngữ rất lưu loát.

4. Gia đình nhiều giáo sư, phó giáo sư

Một gia đình đặc biệt có đến 8 người con đều là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ như gia đình cố giáo sư – nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân quả thật là hiếm có. Họ đều là những nhà khoa học xuất sắc, nổi tiếng của đất nước.

GS.TSKH – nhạc sĩ Nguyễn Lân Tuất (người con cả của giáo sư Nguyễn Lân): Người Việt Nam đầu tiên được cựu tổng thống Nga Vladimir Putin phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Công huân Liên bang Nga năm 2001, hiện đang giảng dạy tại Nhạc viện Novosibirsk, Nga.

TS Nguyễn Tề Chỉnh (người con thứ hai): Nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

GS.TS.NGND Nguyễn Lân Dũng (người con thứ ba): Một trong những nhà khoa học đầu ngành vi sinh vật học, chuyên gia cao cấp Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học; đại biểu Quốc hội các khóa X, XI, XII.

PGS.TS Nguyễn Lân Cường (người con thứ tư): Nghiên cứu viên cao cấp, chuyên gia đầu đàn của bộ môn cổ nhân học; Phó Tổng Thư ký Hội Khảo cổ học Việt Nam, giảng viên Khoa Lịch sử – Đại học Quốc gia Hà Nội.

GS.TS Nguyễn Lân Hùng (người con thứ năm): Tổng Thư ký Hội Các ngành sinh học Việt Nam, giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

PGS.TS Nguyễn Lân Tráng (người con thứ sáu): Giảng viên Bộ môn Hệ thống điện – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

GS.TS.TTND Nguyễn Lân Việt (người con thứ bảy): Viện trưởng Viện Tim mạch, Phó Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam, nguyên hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội.

PGS.TS Nguyễn Lân Trung (người con út): Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội, Phó Chủ tịch Liên đoàn Bóng đá Việt Nam.

Ngoài những người con trai đều là những giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ thì gia đình của cố GS Nguyễn Lân cũng có nhiều con rể, con dâu và các đời cháu con là những trí thức có uy tín trong xã hội. Tính đến 3 đời, con trai con gái, dâu rể, các cháu, gia đình Nguyễn Lân có gần 20 giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ. Đại gia đình nhà Nguyễn Lân vẫn gìn giữ nền nếp gia phong, kính trên nhường dưới, anh em yêu quý nhau cho đến giờ.

 

https://giadinh.net.vn/9-bo-con-song-hanh-tren-buc-giang-dai-hoc-172180205151555959.htm

https://vietnamnet.vn/vn/doi-song/nhung-gia-dinh-danh-tieng-bac-nhat-viet-nam-127944.html 

http://daidoanket.vn/giao-su-nguyen-lan-dungsong-va-chia-se-5656495.html

Những hình ảnh hoạt động của Thầy
với Nhân giáo dưỡng và Cộng đồng

Mô hình Định vị Nhân Hiệu

Giáo dục phải thắp lên được lửa khát vọng – Làm người rồi mới sinh tồn.

* Nhân giáo dưỡng như vào bếp, làm bếp, đi chợ, chuẩn bị bữa cơm gia đình mỗi ngày


Tôi thấy là, học sinh của mình mới quan trọng. Khi đặt trọng tâm khác thì ắt có phương pháp khác.

“Nhàn đàm về giáo dục” (thường gắn liền với các trăn trở của chuyên gia Phan Chánh Dưỡng) là những suy tư sâu sắc về việc giáo dục toàn diện một con người thông qua sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội.

Giáo dục không chỉ là truyền thụ kiến thức mà là quá trình giúp con người tìm thấy chính mình, phát triển nhân cách, và cần thay đổi phương pháp từ tiếp nhận sang tư duy, trao đổi thông tin.

Các khía cạnh chính trong nhàn đàm về giáo dục:

Sự phối hợp 3 môi trường: Giáo dục hoàn thiện một con người cần sự đồng bộ giữa gia đình (nền tảng), nhà trường (kiến thức, kỷ luật) và xã hội (môi trường thực tiễn).

Mục tiêu giáo dục: Hướng tới việc hình thành nhân cách, khả năng tự học và tư duy sáng tạo thay vì chỉ chú trọng điểm số hay kiến thức thuần túy.

Quan điểm về người dạy: Người làm giáo dục cũng cần được giáo dục và phải liên tục học hỏi, đổi mới tư duy.

Trải nghiệm thực tế: Giáo dục cần gắn liền với kinh nghiệm thực tiễn, giúp con người thích ứng với những biến động của xã hội và cuộc sống.

Cuốn sách “Nhàn đàm giáo dục” của Phan Chánh Dưỡng tập hợp các quan điểm từ năm 1981-2003, thể hiện góc nhìn của một người từng là thầy giáo sau đó làm kinh tế về việc phát triển giáo dục Việt Nam.

Hiếu Từ Tín Lễ 
Cần Kiệm Phục Thực 
Chí Nhân Dũng Nhẫn
Trí Sáng Thời Không

“Nhân – giáo – dưỡng tạo thành những giá trị để con người có sứ mệnh phải làm gì, tạo ra những giá trị gì và kiến tạo những điều tốt đẹp cho cộng đồng xã hội”.

– Ông là một trong những Nhà kiến tạo Khu đô thị Nam Sài Gòn, Khu Chế Xuất Tân Thuận, Hiệp Phước,…Khu đô thị Phú Mỹ Hưng ngày nay.

– Giảng viên, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, lĩnh vực quản lý và Tiếp thị địa phương. Ông có bằng Cử nhân Vật Lý ngành Điện tử của Viện Đại học Sài Gòn, Phân khoa Khoa học. Ông là thành viên Nhóm Tư vấn Kinh tế cho Thủ Tướng. Năm 2003-2004 ông là nghiên cứu viên tại Trung tâm Doanh nghiệp và Chính phủ của Trường Quản lý Nhà nước John. F. Kennedy thuộc Đại học Harvard.

– Hiện là Giám đốc Quỹ Cộng đồng Đinh Thiện Lý

Lục Định Lập Thân Dựng Nghiệp

1/- Định dạng (Xác định tầm dóc vấn đề (đề án) trước hiện trạng kinh tế xã hội đang diển ra)

Nhận dạng bối cảnh đề án, các yếu tố khách quan liên quan với mục tiêu (quá khứ hiện tại và tương lai suốt dòng đời đề án). Xác định các yếu tố liên quan với mục tiêu tối hậu.

2/- Định vị (so sánh vị trí vai trò khả năng của ta đối với yêu cầu mục tiêu)

Xác định các yếu tố, điều kiện, khả năng ta đả có và nhửng gì ta chưa có được. Tìm các giải pháp khắc phục những khó khăn mà ta phải vượt qua. (Từ đó lấy quyết định cuối cùng).

3/- Định hướng chiến lược (Đưa ra tầm nhìn, mục tiêu, phương châm hành động)

Phân tích mọi khả năng để tìm ra phương hướng chiến lược và xây dựng bước đi cho từng giai đoạn cụ thể (thời gian, không gian), xác định đâu là lực cản, lực đẩy. Đề ra một phương hướng nguyên tắc tổ chức xây dựng bộ máy, xây dựng lực lượng (vốn, con người v.v..) nhầm tiến đến mục tiêu cuối cùng.

4/- Định lượng kế hoạch thực hiện (trên cơ sở chiến lược xây dựng kế hoạch hành động cụ thể

Xây dựng kế hoạch giải pháp thực hiện dự án cụ thể cho từng mục tiêu của từng giai đoạn (nhân lực, tài lực, đề ra điều kiện, phương pháp tiến hành, thời gian hoàn thành cho từng công đoạn v.v…

5/- Định chuẩn ( đề ra tiêu chuẩn giá trị)

Xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng công việc, nhầm kiểm tra hướng phát triển của đề án, kịp thời điều chỉnh kế hoạch, đảm bảo kế hoạch được thực hiện đúng yêu cầu mục tiêu. Đồng thời trên cơ sở đó hoàn thiện tổ chức, xây dựng chế độ thưởng phát công minh.

Ngũ Định nêu trên là phương pháp tư duy giúp chúng ta “Nhập Thế” vào đời sống xã hội đương đại như một công dân tích cực vừa sống với trách nhiệm với “gia đình ta” và “Xã hội” con người. Và gìn gửi môi trường “Thiên Nhiên”.

Ở tầm cao hơn khi chúng ta đã có những thành đạt nhất định trong đường đời. Nhất là không còn bị vướng bận lo âu với cuộc sống vật chất cho “gia đình” Ta có thể bước vào cuộc sống “Tâm thân” tự do, thanh thản tâm trí với một tuệ giác cao hơn trên nền tảng dưới đây:

6/- Định tính nhân cách

Đó là xác định giá trị, nhân cách, nhân sinh quan của ta về: người với Người (đó là “Nhân Đạo”), người với Thiên Nhiên (đó là “Thiên Đạo”).

Lục định (6 điều nêu trên). Cấu thành một thể thống nhất. tạo nên một hệ thống quan sát, đánh giá, tư duy, xây dựng nên môt chuẩn mực hành động và không ngừng tự hoàn thiện chính mình và tích cực đóng góp cho xã hội, từ đó chủ động điều hướng vận mệnh chúng ta.

7/- Thất Định Xã Thân Cho Hoài Bão

Khi con người nhập thế kinh qua Lục Định lập thân dựng nghiệp, kinh nghiệp cuộc sống đủ phong phú, trãi nghiệm những thành bại, tuổi đời đã đến ngưỡng ngũ thập tri thiên mạng như người xưa từng nêu. Cuộc sống vật chất có thể đã được an vị. Lúc nầy chúng ta có thể bước vào giai đoạn nhận dạng lại chính thân tâm của ta với 3 khuynh hướng sau:

  • Chuẩn bị truyền thừa cho thế hệ tiếp theo.
  • Xã thân cho, một sứ mệnh, một tính ngưỡng thiêng liêng v. v… góp phần xây dựng cộng đồng xã hội và môi trường thiên nhiên vững bền.
  • Vui thú với cuộc sống tinh thần thân tâm an lạc.

8/- Bát Định Tu Thân Dưỡng Tính

Lúc nầy tuổi đời của chúng ta đã bước vào thất thập cổ lai hy trở lên, thể lực sẻ không còn nhanh nhạy. Nên phải gìn giử sức khỏe tráng kiện, để tâm tính hoan lạc, trí tuệ minh mẩn. Luôn đọc sách viết sách (nếu có thể). Cố giử được mối liên hệ với kiến thức mới, thế hệ con người mới đương thời. Tồn tại với sự thể hiện hửu ích của thế hệ chúng ta cho đời sau.

9/- Cữu Định Chân Tâm – Qui Vị

Buôn bỏ tất cả quá khứ, để lại tất cả cho con người tương lai, với tinh thần viên mãn, đón nhận một trải nghiệm hoàn thành một kiếp sống con người. Giử lấy “Chân Tâm” (một tinh thần thỏa mãn hân hoan). “Qui Vi” (trở về vị trí vốn là của ta).

Nhân” là phạm trù đạo đức của Nho gia và “từ” là tinh thần yêu thương mọi sinh linh của nhà Phật.
Chữ “nhân” của Nho gia theo nghĩa hẹp và cụ thể được Khổng Tử diễn giải cho các học trò của mình được sách vở ghi lại như sau:

Nhân là kìm chế mình để trở về với lễ (khi trả lời Nhan Hồi).
Nhân là điều gì mình không muốn thì đừng áp đặt cho người khác, “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (khi trả lời Trọng Cung).
Nhân là yêu người (Khi trả lời Phàn Trì).

Khổng Tử nói “có thể làm được năm điều dưới đây với thiên hạ là có nhân” đó là: Cung kính, khoan dung, giữ chữ tín, chăm chỉ siêng năng, ra ơn cho mọi người. Ngoài ra, ông nói: Người có nhân, muốn thành đạt thì cũng giúp cho người thành đạt.
Tất cả câu trả lời trên đều cụ thể cho từng người, nội dung hàm chứa tính giáo dục con người cụ thể.

Chữ “nhân” theo nghĩa hẹp rất rộng, do đó người nhà Nho sau này giải thích chữ “nhân” là lý của yêu thương, là đức của tâm hay là làm điều nhân là giữ toàn tâm đức v.v…
Theo nghĩa rộng, chữ “nhân” được Khổng Tử, Mạnh Tử xem như tư tưởng cốt lõi của Nho giáo (giáo ở đây không phải là tôn giáo, mà là giáo hóa con người).

Do đó đạo đức của Nho giáo cũng có thể gọi là đạo của chữ nhân, khi nói “nhân giả nhị nhân giả” (chữ “nhân” chiết tự ra gồm chữ “nhân” là “người” và chữ “nhị” là “hai”).
Nghĩa là: Nhân là mối quan hệ giữa người và người. Đây chính là mọi quan hệ của con người trong xã hội. Nếu xử lý hài hòa các mối quan hệ trên thì xã hội sẽ trật tự, trên dưới hài hòa, và con người được sống trong cảnh thái bình. Do đó nhân chính là đạo làm người vậy.

Từ luận giải chữ “nhân” nghĩa rộng trên, chúng ta thấy mối quan hệ giữa người và người đầu tiên phải được xử lý, phải được quy phạm đó là con cái và cha mẹ.

Chúng ta ai cũng biết khi chào đời người gần gũi lo toan cho ta là đấng sinh thành (cha mẹ). Do đó, theo Nho giáo đây là mối quan hệ đặc biệt ưu tiên trong mọi mối quan hệ xã hội. Quy phạm về mối quan hệ này Nho giáo gọi là “đạo hiếu” (Theo Nho giáo, bách hạnh hiếu là đầu, làm người phải đặt chữ hiếu lên trên hết). Tiếp theo là mối quan hệ với anh em là chữ “đệ”, mối quan hệ với bạn bè là chữ “nghĩa”, mối quan hệ với vua là chữ “trung” v.v…

Từ đó triển khai ra các phạm trù đạo đức khác để tu thân, để rèn luyện đức tính con người: lễ, nghĩa, liêm, sỉ, trí, nhân (nghĩa hẹp), dũng v.v…Thật ra những phạm trù đạo đức nêu trên (trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín v.v…) chỉ là tên gọi của các mối quan hệ hay những thái độ, cư xử, quan điểm, lẽ sống của con người trong xã hội.

Nhưng nội dung hàm chứa bên trong của nó tùy theo thời đại khác nhau lại có ý nghĩa khác nhau. Ví dụ chữ “hiếu” là một phạm trù đạo đức nói lên mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ.
Phạm trù này vĩnh viễn tồn tại trong mọi xã hội từ xưa đến nay và cả mai sau, nhưng nội dung của chữ “hiếu” thì theo từng thời đại khác nhau có những nội dung khác nhau.
Như ngày xưa hiếu là luôn vâng lời cha mẹ, nuôi dưỡng cha mẹ, phải sinh con cái để nối dõi tông đường. Khi cha mẹ qua đời, con phải cư tang bằng hình thức sống quanh mộ đói rét ba năm không được đi đâu, không được vui vẻ để tỏ nỗi khổ đau thương nhớ mẹ cha…

Nhưng cũng có nhà Nho cho rằng “đại hiếu là làm rạng rỡ tông đường, kế đến là không làm gì nhục gia tông, thứ ba mới đến nuôi nấng cha mẹ”…
Còn ngày nay, chúng ta phải có nội dung phù hợp cho chữ “hiếu”. Chữ “trung” cũng thế, không thể giữ nội dung là trung với vua mà phải là trung với nước, trung với dân v.v…
Ngày xuân, có đôi điều mạn đàm về ý nghĩa chữ “nhân”, qua đó người viết hy vọng đưa ra được một nội dung rèn luyện đạo đức cá nhân cho mỗi người mà trong xã hội ngày nay dường như nhiều người đã quên lãng.

PHAN CHÁNH DƯỠNG, Nguồn DNSG

 

Tập hồi ký của chuyên gia kinh tế Phan Chánh Dưỡng là nguồn tài liệu quý giá, cẩm nang thuyết phục về tư duy sáng tạo, cách làm đột phá và tinh thần cống hiến cho xã hội của Phan Chánh Dưỡng cùng những trí thức thế hệ ông trong Nhóm Thứ Sáu – nghiên cứu và cố vấn chính sách kinh tế.

Sống Hạnh Phúc Kiến Tạo

X