Thầy Phan Chánh Dưỡng – Nhân Đạo Thiên Đạo

Mục lục

Cuộc đời và Sự nghiệp

Ông Phan Chánh Dưỡng là một Nhân Sứ có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, giáo dục và xã hội tại Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn Đổi mới.

Ông là một trong những Nhà kiến tạo Khu đô thị Nam Sài Gòn, Khu Chế Xuất Tân Thuận, Hiệp Phước,…Khu đô thị Phú Mỹ Hưng ngày nay.

Giảng viên, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, lĩnh vực quản lý và Tiếp thị địa phương. Ông có bằng Cử nhân Vật Lý ngành Điện tử của Viện Đại học Sài Gòn, Phân khoa Khoa học. Ông là thành viên Nhóm Tư vấn Kinh tế cho Thủ Tướng. Năm 2003-2004 ông là nghiên cứu viên tại Trung tâm Doanh nghiệp và Chính phủ của Trường Quản lý Nhà nước John. F. Kennedy thuộc Đại học Harvard.

Hiện là Chủ tịch Quỹ Cộng đồng Đinh Thiện Lý.

Những phẩm chất tốt đẹp làm nên ông có thể kể đến như:

1. Tầm nhìn chiến lược và khả năng tư duy đột phá

Ông Phan Chánh Dưỡng được biết đến là một trong những thành viên chủ chốt của “Nhóm Thứ Sáu” – nhóm chuyên gia kinh tế đã có những đóng góp dũng cảm và hiệu quả vào công cuộc đổi mới kinh tế của Việt Nam những năm 80, 90. Ông có khả năng nhìn nhận vấn đề một cách sâu sắc, đưa ra những kiến giải, đề xuất mang tính đột phá, góp phần hình thành nhiều chính sách quan trọng, tiêu biểu như việc xây dựng mô hình Khu chế xuất Tân Thuận. Ông cũng là người có những ước mơ lớn và khả năng biến những ước mơ đó thành hiện thực, từ việc biến vùng đầm lầy ngập nước thành khu đô thị kiểu mẫu Phú Mỹ Hưng.

2. Trách nhiệm công dân sâu sắc và tinh thần cống hiến

Trong suốt sự nghiệp của mình, ông Phan Chánh Dưỡng luôn thể hiện trách nhiệm cao cả đối với cộng đồng và đất nước. Ông không ngừng học hỏi, tìm tòi và chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm để góp phần vào sự phát triển chung. Dù ở vai trò nào, từ thầy giáo, nhà nghiên cứu đến chuyên gia tư vấn chính sách, ông luôn làm việc với sự tận tâm và mong muốn mang lại những giá trị tốt đẹp cho xã hội.

3. Khát khao học hỏi và tinh thần tự học không ngừng

Ông Phan Chánh Dưỡng là một tấm gương về tinh thần học hỏi trọn đời. Dù xuất thân từ hoàn cảnh khó khăn, ông đã tự học và vươn lên trong xã hội. Ông luôn tìm kiếm “thầy” để học và tích lũy kiến thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau. Tinh thần này thể hiện rõ qua việc ông vẫn tiếp tục tham gia giảng dạy và nghiên cứu ngay cả khi đã nghỉ hưu, chia sẻ những trải nghiệm và hiểu biết sâu sắc của mình về giáo dục và phát triển.

4. Sự khiêm tốn và giản dị

Mặc dù có nhiều thành tựu và đóng góp lớn, ông Phan Chánh Dưỡng luôn giữ thái độ khiêm tốn. Ông không ngại thừa nhận những điều mình chưa biết và sẵn sàng học hỏi từ người khác. Sự giản dị trong cách sống và làm việc của ông cũng là một phẩm chất đáng quý.

5. Tư duy “Nhân” và triết lý sống nhân văn

Ông Phan Chánh Dưỡng định nghĩa “Nhân” dựa trên hai yếu tố cốt lõi: Nhân đạo (mối quan hệ giữa người với người) và Thiên đạo (mối quan hệ giữa người với thiên nhiên). Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sống hài hòa với cả con người và môi trường, sống hạnh phúc, tự do, sáng tạo với cái Tâm của mình. Triết lý này thấm nhuần trong cách ông làm việc, giảng dạy và đóng góp cho xã hội.

Những phẩm chất này đã giúp ông Phan Chánh Dưỡng trở thành một nhân vật có ảnh hưởng lớn, được nhiều người kính trọng và học hỏi.

Hai tác phẩm tâm huyết của Thầy
về nhân sinh và giáo dục

Cuốn sách là nguồn tài liệu quý giá, cẩm nang thuyết phục về tư duy sáng tạo, cách làm đột phá và tinh thần cống hiến cho xã hội của Phan Chánh Dưỡng cùng những trí thức thế hệ ông trong Nhóm Thứ Sáu – nghiên cứu và cố vấn chính sách kinh tế. Đó có thể là câu chuyện từ chính ông, người mạnh dạn và táo bạo đưa ra đề án xây dựng Khu Chế xuất Tân Thuận, Hiệp Phước và Khu Đô thị Phú Mỹ Hưng để những vùng đất hoang hoá ngập mặn trở thành vùng đô thị mới, những vùng lau sậy trở thành điểm nóng thu hút vốn đầu tư nước ngoài; đó cũng là câu chuyện chính ông của thời hội nhập, vẫn nhiệt huyết tham gia điều hành Quỹ Hỗ trợ Cộng đồng Đinh Thiện Lý (Lawrence S. Ting), là người thầy đáng kính tại Đại học Fulbright truyền trao kinh nghiệm cố vấn, đổi mới chính sách công trong thời hội nhập…

Ký ức theo dòng đời là cuốn hồi ký mà thông qua chuyện dòng đời và chọn lựa lẽ sống, cống hiến và tâm tình của một trí thức trong bức tranh thời cuộc đất nước từ Bao Cấp sang Đổi Mới và Hội nhập – Toàn cầu hóa.

Nhà báo Trần Trọng Thức nhận định: “Qua hồi ức này, phần “tự sự” tác giả đã ghi lại rất ngay tình về bản thân, phần “thế sự” lại rất khách quan trong mọi hoàn cảnh và các mối quan hệ xã hội, đồng thời đề cập nhiều giải pháp mà người viết kỳ vọng là bài học cho lớp trẻ sau này.”

“Nhàn đàm về giáo dục” (thường gắn liền với các trăn trở của chuyên gia Phan Chánh Dưỡng) là những suy tư sâu sắc về việc giáo dục toàn diện một con người thông qua sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội.

Giáo dục không chỉ là truyền thụ kiến thức mà là quá trình giúp con người tìm thấy chính mình, phát triển nhân cách, và cần thay đổi phương pháp từ tiếp nhận sang tư duy, trao đổi thông tin.

Các khía cạnh chính trong nhàn đàm về giáo dục:

Sự phối hợp 3 môi trường: Giáo dục hoàn thiện một con người cần sự đồng bộ giữa gia đình (nền tảng), nhà trường (kiến thức, kỷ luật) và xã hội (môi trường thực tiễn). Trong đó giáo dục gia đình và giáo dục cấp 1 là quan trọng nhất.

Mục tiêu giáo dục: Hướng tới việc hình thành nhân cách, khả năng tự học và tư duy sáng tạo thay vì chỉ chú trọng điểm số hay kiến thức thuần túy.

Quan điểm về người dạy: Người làm giáo dục cũng cần được giáo dục và phải liên tục học hỏi, đổi mới tư duy.

Trải nghiệm thực tế: Giáo dục cần gắn liền với kinh nghiệm thực tiễn, giúp con người thích ứng với những biến động của xã hội và cuộc sống.

Cuốn sách “Nhàn đàm giáo dục” của Phan Chánh Dưỡng tập hợp các quan điểm từ năm 1981-2003, thể hiện góc nhìn của một người từng là thầy giáo sau đó làm kinh tế về việc phát triển giáo dục Việt Nam.

Những hình ảnh hoạt động của Thầy
với Nhân giáo dưỡng và Cộng đồng

Mô hình nghiên cứu kiến giải Trưởng thành của Nhân

Lục Thất Cửu Định Nhân Pháp

Thầy Phan Chánh Dưỡng

Lục Định Lập Thân Dựng Nghiệp

1/- Định dạng (Xác định tầm vốc vấn đề (đề án) trước hiện trạng kinh tế xã hội đang diễn ra)

Nhận dạng bối cảnh đề án, các yếu tố khách quan liên quan với mục tiêu (quá khứ hiện tại và tương lai suốt dòng đời đề án). Xác định các yếu tố liên quan với mục tiêu tối hậu.

2/- Định vị (so sánh vị trí vai trò khả năng của ta đối với yêu cầu mục tiêu)

Xác định các yếu tố, điều kiện, khả năng ta đả có và nhửng gì ta chưa có được. Tìm các giải pháp khắc phục những khó khăn mà ta phải vượt qua. (Từ đó lấy quyết định cuối cùng).

3/- Định hướng chiến lược (Đưa ra tầm nhìn, mục tiêu, phương châm hành động)

Phân tích mọi khả năng để tìm ra phương hướng chiến lược và xây dựng bước đi cho từng giai đoạn cụ thể (thời gian, không gian), xác định đâu là lực cản, lực đẩy. Đề ra một phương hướng nguyên tắc tổ chức xây dựng bộ máy, xây dựng lực lượng (vốn, con người v.v..) nhầm tiến đến mục tiêu cuối cùng.

4/- Định lượng kế hoạch thực hiện (trên cơ sở chiến lược xây dựng kế hoạch hành động cụ thể

Xây dựng kế hoạch giải pháp thực hiện dự án cụ thể cho từng mục tiêu của từng giai đoạn (nhân lực, tài lực, đề ra điều kiện, phương pháp tiến hành, thời gian hoàn thành cho từng công đoạn v.v…

5/- Định chuẩn ( đề ra tiêu chuẩn giá trị)

Xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng công việc, nhầm kiểm tra hướng phát triển của đề án, kịp thời điều chỉnh kế hoạch, đảm bảo kế hoạch được thực hiện đúng yêu cầu mục tiêu. Đồng thời trên cơ sở đó hoàn thiện tổ chức, xây dựng chế độ thưởng phát công minh.

Ngũ Định nêu trên là phương pháp tư duy giúp chúng ta “Nhập Thế” vào đời sống xã hội đương đại như một công dân tích cực vừa sống với trách nhiệm với “gia đình ta” và “Xã hội” con người. Và gìn gửi môi trường “Thiên Nhiên”.

Ở tầm cao hơn khi chúng ta đã có những thành đạt nhất định trong đường đời. Nhất là không còn bị vướng bận lo âu với cuộc sống vật chất cho “gia đình” Ta có thể bước vào cuộc sống “Tâm thân” tự do, thanh thản tâm trí với một tuệ giác cao hơn trên nền tảng dưới đây:

6/- Định tính nhân cách

Đó là xác định giá trị, nhân cách, nhân sinh quan của ta về: người với Người (đó là “Nhân Đạo”), người với Thiên Nhiên (đó là “Thiên Đạo”).

Lục định (6 điều nêu trên). Cấu thành một thể thống nhất. tạo nên một hệ thống quan sát, đánh giá, tư duy, xây dựng nên môt chuẩn mực hành động và không ngừng tự hoàn thiện chính mình và tích cực đóng góp cho xã hội, từ đó chủ động điều hướng vận mệnh chúng ta.

7/- Thất Định Xã Thân Cho Hoài Bão

Khi con người nhập thế kinh qua Lục Định lập thân dựng nghiệp, kinh nghiệp cuộc sống đủ phong phú, trãi nghiệm những thành bại, tuổi đời đã đến ngưỡng ngũ thập tri thiên mạng như người xưa từng nêu. Cuộc sống vật chất có thể đã được an vị. Lúc nầy chúng ta có thể bước vào giai đoạn nhận dạng lại chính thân tâm của ta với 3 khuynh hướng sau:

  • Chuẩn bị truyền thừa cho thế hệ tiếp theo.
  • Xã thân cho, một sứ mệnh, một tính ngưỡng thiêng liêng v. v… góp phần xây dựng cộng đồng xã hội và môi trường thiên nhiên vững bền.
  • Vui thú với cuộc sống tinh thần thân tâm an lạc.

8/- Bát Định Tu Thân Dưỡng Tính

Lúc nầy tuổi đời của chúng ta đã bước vào thất thập cổ lai hy trở lên, thể lực sẻ không còn nhanh nhạy. Nên phải gìn giử sức khỏe tráng kiện, để tâm tính hoan lạc, trí tuệ minh mẩn. Luôn đọc sách viết sách (nếu có thể). Cố giử được mối liên hệ với kiến thức mới, thế hệ con người mới đương thời. Tồn tại với sự thể hiện hửu ích của thế hệ chúng ta cho đời sau.

9/- Cữu Định Chân Tâm – Qui Vị

Buôn bỏ tất cả quá khứ, để lại tất cả cho con người tương lai, với tinh thần viên mãn, đón nhận một trải nghiệm hoàn thành một kiếp sống con người. Giử lấy “Chân Tâm” (một tinh thần thỏa mãn hân hoan). “Qui Vi” (trở về vị trí vốn là của ta).

Mô hình Định vị Nhân Hiệu

Giáo dục phải thắp lên được lửa khát vọng – Làm người rồi mới sinh tồn.

* Nhân giáo dưỡng như vào bếp, làm bếp, đi chợ, chuẩn bị bữa cơm gia đình mỗi ngày


Tôi thấy là, học sinh của mình mới quan trọng. Khi đặt trọng tâm khác thì ắt có phương pháp khác.

“Nhàn đàm về giáo dục” (thường gắn liền với các trăn trở của chuyên gia Phan Chánh Dưỡng) là những suy tư sâu sắc về việc giáo dục toàn diện một con người thông qua sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội.

Giáo dục không chỉ là truyền thụ kiến thức mà là quá trình giúp con người tìm thấy chính mình, phát triển nhân cách, và cần thay đổi phương pháp từ tiếp nhận sang tư duy, trao đổi thông tin.

Các khía cạnh chính trong nhàn đàm về giáo dục:

Sự phối hợp 3 môi trường: Giáo dục hoàn thiện một con người cần sự đồng bộ giữa gia đình (nền tảng), nhà trường (kiến thức, kỷ luật) và xã hội (môi trường thực tiễn).

Mục tiêu giáo dục: Hướng tới việc hình thành nhân cách, khả năng tự học và tư duy sáng tạo thay vì chỉ chú trọng điểm số hay kiến thức thuần túy.

Quan điểm về người dạy: Người làm giáo dục cũng cần được giáo dục và phải liên tục học hỏi, đổi mới tư duy.

Trải nghiệm thực tế: Giáo dục cần gắn liền với kinh nghiệm thực tiễn, giúp con người thích ứng với những biến động của xã hội và cuộc sống.

Cuốn sách “Nhàn đàm giáo dục” của Phan Chánh Dưỡng tập hợp các quan điểm từ năm 1981-2003, thể hiện góc nhìn của một người từng là thầy giáo sau đó làm kinh tế về việc phát triển giáo dục Việt Nam.

Hiếu Từ Tín Lễ 
Cần Kiệm Phục Thực 
Chí Nhân Dũng Nhẫn
Trí Sáng Thời Không

“Nhân – giáo – dưỡng tạo thành những giá trị để con người có sứ mệnh phải làm gì, tạo ra những giá trị gì và kiến tạo những điều tốt đẹp cho cộng đồng xã hội”.

– Ông là một trong những Nhà kiến tạo Khu đô thị Nam Sài Gòn, Khu Chế Xuất Tân Thuận, Hiệp Phước,…Khu đô thị Phú Mỹ Hưng ngày nay.

– Giảng viên, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, lĩnh vực quản lý và Tiếp thị địa phương. Ông có bằng Cử nhân Vật Lý ngành Điện tử của Viện Đại học Sài Gòn, Phân khoa Khoa học. Ông là thành viên Nhóm Tư vấn Kinh tế cho Thủ Tướng. Năm 2003-2004 ông là nghiên cứu viên tại Trung tâm Doanh nghiệp và Chính phủ của Trường Quản lý Nhà nước John. F. Kennedy thuộc Đại học Harvard.

– Hiện là Giám đốc Quỹ Cộng đồng Đinh Thiện Lý

Lục Định Lập Thân Dựng Nghiệp

1/- Định dạng (Xác định tầm dóc vấn đề (đề án) trước hiện trạng kinh tế xã hội đang diển ra)

Nhận dạng bối cảnh đề án, các yếu tố khách quan liên quan với mục tiêu (quá khứ hiện tại và tương lai suốt dòng đời đề án). Xác định các yếu tố liên quan với mục tiêu tối hậu.

2/- Định vị (so sánh vị trí vai trò khả năng của ta đối với yêu cầu mục tiêu)

Xác định các yếu tố, điều kiện, khả năng ta đả có và nhửng gì ta chưa có được. Tìm các giải pháp khắc phục những khó khăn mà ta phải vượt qua. (Từ đó lấy quyết định cuối cùng).

3/- Định hướng chiến lược (Đưa ra tầm nhìn, mục tiêu, phương châm hành động)

Phân tích mọi khả năng để tìm ra phương hướng chiến lược và xây dựng bước đi cho từng giai đoạn cụ thể (thời gian, không gian), xác định đâu là lực cản, lực đẩy. Đề ra một phương hướng nguyên tắc tổ chức xây dựng bộ máy, xây dựng lực lượng (vốn, con người v.v..) nhầm tiến đến mục tiêu cuối cùng.

4/- Định lượng kế hoạch thực hiện (trên cơ sở chiến lược xây dựng kế hoạch hành động cụ thể

Xây dựng kế hoạch giải pháp thực hiện dự án cụ thể cho từng mục tiêu của từng giai đoạn (nhân lực, tài lực, đề ra điều kiện, phương pháp tiến hành, thời gian hoàn thành cho từng công đoạn v.v…

5/- Định chuẩn ( đề ra tiêu chuẩn giá trị)

Xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng công việc, nhầm kiểm tra hướng phát triển của đề án, kịp thời điều chỉnh kế hoạch, đảm bảo kế hoạch được thực hiện đúng yêu cầu mục tiêu. Đồng thời trên cơ sở đó hoàn thiện tổ chức, xây dựng chế độ thưởng phát công minh.

Ngũ Định nêu trên là phương pháp tư duy giúp chúng ta “Nhập Thế” vào đời sống xã hội đương đại như một công dân tích cực vừa sống với trách nhiệm với “gia đình ta” và “Xã hội” con người. Và gìn gửi môi trường “Thiên Nhiên”.

Ở tầm cao hơn khi chúng ta đã có những thành đạt nhất định trong đường đời. Nhất là không còn bị vướng bận lo âu với cuộc sống vật chất cho “gia đình” Ta có thể bước vào cuộc sống “Tâm thân” tự do, thanh thản tâm trí với một tuệ giác cao hơn trên nền tảng dưới đây:

6/- Định tính nhân cách

Đó là xác định giá trị, nhân cách, nhân sinh quan của ta về: người với Người (đó là “Nhân Đạo”), người với Thiên Nhiên (đó là “Thiên Đạo”).

Lục định (6 điều nêu trên). Cấu thành một thể thống nhất. tạo nên một hệ thống quan sát, đánh giá, tư duy, xây dựng nên môt chuẩn mực hành động và không ngừng tự hoàn thiện chính mình và tích cực đóng góp cho xã hội, từ đó chủ động điều hướng vận mệnh chúng ta.

7/- Thất Định Xã Thân Cho Hoài Bão

Khi con người nhập thế kinh qua Lục Định lập thân dựng nghiệp, kinh nghiệp cuộc sống đủ phong phú, trãi nghiệm những thành bại, tuổi đời đã đến ngưỡng ngũ thập tri thiên mạng như người xưa từng nêu. Cuộc sống vật chất có thể đã được an vị. Lúc nầy chúng ta có thể bước vào giai đoạn nhận dạng lại chính thân tâm của ta với 3 khuynh hướng sau:

  • Chuẩn bị truyền thừa cho thế hệ tiếp theo.
  • Xã thân cho, một sứ mệnh, một tính ngưỡng thiêng liêng v. v… góp phần xây dựng cộng đồng xã hội và môi trường thiên nhiên vững bền.
  • Vui thú với cuộc sống tinh thần thân tâm an lạc.

8/- Bát Định Tu Thân Dưỡng Tính

Lúc nầy tuổi đời của chúng ta đã bước vào thất thập cổ lai hy trở lên, thể lực sẻ không còn nhanh nhạy. Nên phải gìn giử sức khỏe tráng kiện, để tâm tính hoan lạc, trí tuệ minh mẩn. Luôn đọc sách viết sách (nếu có thể). Cố giử được mối liên hệ với kiến thức mới, thế hệ con người mới đương thời. Tồn tại với sự thể hiện hửu ích của thế hệ chúng ta cho đời sau.

9/- Cữu Định Chân Tâm – Qui Vị

Buôn bỏ tất cả quá khứ, để lại tất cả cho con người tương lai, với tinh thần viên mãn, đón nhận một trải nghiệm hoàn thành một kiếp sống con người. Giử lấy “Chân Tâm” (một tinh thần thỏa mãn hân hoan). “Qui Vi” (trở về vị trí vốn là của ta).

Nhân” là phạm trù đạo đức của Nho gia và “từ” là tinh thần yêu thương mọi sinh linh của nhà Phật.
Chữ “nhân” của Nho gia theo nghĩa hẹp và cụ thể được Khổng Tử diễn giải cho các học trò của mình được sách vở ghi lại như sau:

Nhân là kìm chế mình để trở về với lễ (khi trả lời Nhan Hồi).
Nhân là điều gì mình không muốn thì đừng áp đặt cho người khác, “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (khi trả lời Trọng Cung).
Nhân là yêu người (Khi trả lời Phàn Trì).

Khổng Tử nói “có thể làm được năm điều dưới đây với thiên hạ là có nhân” đó là: Cung kính, khoan dung, giữ chữ tín, chăm chỉ siêng năng, ra ơn cho mọi người. Ngoài ra, ông nói: Người có nhân, muốn thành đạt thì cũng giúp cho người thành đạt.
Tất cả câu trả lời trên đều cụ thể cho từng người, nội dung hàm chứa tính giáo dục con người cụ thể.

Chữ “nhân” theo nghĩa hẹp rất rộng, do đó người nhà Nho sau này giải thích chữ “nhân” là lý của yêu thương, là đức của tâm hay là làm điều nhân là giữ toàn tâm đức v.v…
Theo nghĩa rộng, chữ “nhân” được Khổng Tử, Mạnh Tử xem như tư tưởng cốt lõi của Nho giáo (giáo ở đây không phải là tôn giáo, mà là giáo hóa con người).

Do đó đạo đức của Nho giáo cũng có thể gọi là đạo của chữ nhân, khi nói “nhân giả nhị nhân giả” (chữ “nhân” chiết tự ra gồm chữ “nhân” là “người” và chữ “nhị” là “hai”).
Nghĩa là: Nhân là mối quan hệ giữa người và người. Đây chính là mọi quan hệ của con người trong xã hội. Nếu xử lý hài hòa các mối quan hệ trên thì xã hội sẽ trật tự, trên dưới hài hòa, và con người được sống trong cảnh thái bình. Do đó nhân chính là đạo làm người vậy.

Từ luận giải chữ “nhân” nghĩa rộng trên, chúng ta thấy mối quan hệ giữa người và người đầu tiên phải được xử lý, phải được quy phạm đó là con cái và cha mẹ.

Chúng ta ai cũng biết khi chào đời người gần gũi lo toan cho ta là đấng sinh thành (cha mẹ). Do đó, theo Nho giáo đây là mối quan hệ đặc biệt ưu tiên trong mọi mối quan hệ xã hội. Quy phạm về mối quan hệ này Nho giáo gọi là “đạo hiếu” (Theo Nho giáo, bách hạnh hiếu là đầu, làm người phải đặt chữ hiếu lên trên hết). Tiếp theo là mối quan hệ với anh em là chữ “đệ”, mối quan hệ với bạn bè là chữ “nghĩa”, mối quan hệ với vua là chữ “trung” v.v…

Từ đó triển khai ra các phạm trù đạo đức khác để tu thân, để rèn luyện đức tính con người: lễ, nghĩa, liêm, sỉ, trí, nhân (nghĩa hẹp), dũng v.v…Thật ra những phạm trù đạo đức nêu trên (trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín v.v…) chỉ là tên gọi của các mối quan hệ hay những thái độ, cư xử, quan điểm, lẽ sống của con người trong xã hội.

Nhưng nội dung hàm chứa bên trong của nó tùy theo thời đại khác nhau lại có ý nghĩa khác nhau. Ví dụ chữ “hiếu” là một phạm trù đạo đức nói lên mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ.
Phạm trù này vĩnh viễn tồn tại trong mọi xã hội từ xưa đến nay và cả mai sau, nhưng nội dung của chữ “hiếu” thì theo từng thời đại khác nhau có những nội dung khác nhau.
Như ngày xưa hiếu là luôn vâng lời cha mẹ, nuôi dưỡng cha mẹ, phải sinh con cái để nối dõi tông đường. Khi cha mẹ qua đời, con phải cư tang bằng hình thức sống quanh mộ đói rét ba năm không được đi đâu, không được vui vẻ để tỏ nỗi khổ đau thương nhớ mẹ cha…

Nhưng cũng có nhà Nho cho rằng “đại hiếu là làm rạng rỡ tông đường, kế đến là không làm gì nhục gia tông, thứ ba mới đến nuôi nấng cha mẹ”…
Còn ngày nay, chúng ta phải có nội dung phù hợp cho chữ “hiếu”. Chữ “trung” cũng thế, không thể giữ nội dung là trung với vua mà phải là trung với nước, trung với dân v.v…
Ngày xuân, có đôi điều mạn đàm về ý nghĩa chữ “nhân”, qua đó người viết hy vọng đưa ra được một nội dung rèn luyện đạo đức cá nhân cho mỗi người mà trong xã hội ngày nay dường như nhiều người đã quên lãng.

PHAN CHÁNH DƯỠNG, Nguồn DNSG

 

Tập hồi ký của chuyên gia kinh tế Phan Chánh Dưỡng là nguồn tài liệu quý giá, cẩm nang thuyết phục về tư duy sáng tạo, cách làm đột phá và tinh thần cống hiến cho xã hội của Phan Chánh Dưỡng cùng những trí thức thế hệ ông trong Nhóm Thứ Sáu – nghiên cứu và cố vấn chính sách kinh tế.

Các kênh, báo đài phóng vấn về Thầy

Playlist
13 Videos

Chia sẻ của Thầy về Nhân sinh

Lục Thất Cửu Định Nhân Pháp

Thầy Phan Chánh Dưỡng

 

Lục Định Lập Thân Dựng Nghiệp

1/- Định dạng (Xác định tầm dóc vấn đề (đề án) trước hiện trạng kinh tế xã hội đang diển ra)

Nhận dạng bối cảnh đề án, các yếu tố khách quan liên quan với mục tiêu (quá khứ hiện tại và tương lai suốt dòng đời đề án). Xác định các yếu tố liên quan với mục tiêu tối hậu.

2/- Định vị (so sánh vị trí vai trò khả năng của ta đối với yêu cầu mục tiêu)

Xác định các yếu tố, điều kiện, khả năng ta đả có và nhửng gì ta chưa có được. Tìm các giải pháp khắc phục những khó khăn mà ta phải vượt qua. (Từ đó lấy quyết định cuối cùng).

3/- Định hướng chiến lược (Đưa ra tầm nhìn, mục tiêu, phương châm hành động)

Phân tích mọi khả năng để tìm ra phương hướng chiến lược và xây dựng bước đi cho từng giai đoạn cụ thể (thời gian, không gian), xác định đâu là lực cản, lực đẩy. Đề ra một phương hướng nguyên tắc tổ chức xây dựng bộ máy, xây dựng lực lượng (vốn, con người v.v..) nhầm tiến đến mục tiêu cuối cùng.

4/- Định lượng kế hoạch thực hiện (trên cơ sở chiến lược xây dựng kế hoạch hành động cụ thể

Xây dựng kế hoạch giải pháp thực hiện dự án cụ thể cho từng mục tiêu của từng giai đoạn (nhân lực, tài lực, đề ra điều kiện, phương pháp tiến hành, thời gian hoàn thành cho từng công đoạn v.v…

5/- Định chuẩn ( đề ra tiêu chuẩn giá trị)

Xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng công việc, nhầm kiểm tra hướng phát triển của đề án, kịp thời điều chỉnh kế hoạch, đảm bảo kế hoạch được thực hiện đúng yêu cầu mục tiêu. Đồng thời trên cơ sở đó hoàn thiện tổ chức, xây dựng chế độ thưởng phát công minh.

Ngũ Định nêu trên là phương pháp tư duy giúp chúng ta “Nhập Thế” vào đời sống xã hội đương đại như một công dân tích cực vừa sống với trách nhiệm với “gia đình ta” và “Xã hội” con người. Và gìn gửi môi trường “Thiên Nhiên”.

Ở tầm cao hơn khi chúng ta đã có những thành đạt nhất định trong đường đời. Nhất là không còn bị vướng bận lo âu với cuộc sống vật chất cho “gia đình” Ta có thể bước vào cuộc sống “Tâm thân” tự do, thanh thản tâm trí với một tuệ giác cao hơn trên nền tảng dưới đây:

6/- Định tính nhân cách

Đó là xác định giá trị, nhân cách, nhân sinh quan của ta về: người với Người (đó là “Nhân Đạo”), người với Thiên Nhiên (đó là “Thiên Đạo”).

Lục định (6 điều nêu trên). Cấu thành một thể thống nhất. tạo nên một hệ thống quan sát, đánh giá, tư duy, xây dựng nên môt chuẩn mực hành động và không ngừng tự hoàn thiện chính mình và tích cực đóng góp cho xã hội, từ đó chủ động điều hướng vận mệnh chúng ta.

7/- Thất Định Xã Thân Cho Hoài Bão

Khi con người nhập thế kinh qua Lục Định lập thân dựng nghiệp, kinh nghiệp cuộc sống đủ phong phú, trãi nghiệm những thành bại, tuổi đời đã đến ngưỡng ngũ thập tri thiên mạng như người xưa từng nêu. Cuộc sống vật chất có thể đã được an vị. Lúc nầy chúng ta có thể bước vào giai đoạn nhận dạng lại chính thân tâm của ta với 3 khuynh hướng sau:

  • Chuẩn bị truyền thừa cho thế hệ tiếp theo.
  • Xã thân cho, một sứ mệnh, một tính ngưỡng thiêng liêng v. v… góp phần xây dựng cộng đồng xã hội và môi trường thiên nhiên vững bền.
  • Vui thú với cuộc sống tinh thần thân tâm an lạc.

8/- Bát Định Tu Thân Dưỡng Tính

Lúc nầy tuổi đời của chúng ta đã bước vào thất thập cổ lai hy trở lên, thể lực sẻ không còn nhanh nhạy. Nên phải gìn giử sức khỏe tráng kiện, để tâm tính hoan lạc, trí tuệ minh mẩn. Luôn đọc sách viết sách (nếu có thể). Cố giử được mối liên hệ với kiến thức mới, thế hệ con người mới đương thời. Tồn tại với sự thể hiện hửu ích của thế hệ chúng ta cho đời sau.

9/- Cữu Định Chân Tâm – Qui Vị

Buôn bỏ tất cả quá khứ, để lại tất cả cho con người tương lai, với tinh thần viên mãn, đón nhận một trải nghiệm hoàn thành một kiếp sống con người. Giử lấy “Chân Tâm” (một tinh thần thỏa mãn hân hoan). “Qui Vi” (trở về vị trí vốn là của ta).

Lộ thông, tài thông

(Phan Chánh Dưỡng DNSGCT – Thư quán Nhân 09/09 )
———-
“Lộ thông, tài thông” là câu nói quen thuộc của thời mở cửa: có đường lộ, con người đi lại thuận lợi, hàng hóa vận chuyển dễ dàng, công việc làm ăn của người dân mới có thể phát triển, của cải vật chất cũng như đời sống người dân mới dồi dào lên.
Như vậy muốn phát triển một vùng đất nào đó, việc đầu tiên phải làm là “Lộ” phải thông.

Lộ còn là một từ có ý nghĩa rất sâu rộng bao la hơn nữa. Khái niệm về lộ hiện diện khắp mọi lĩnh vực, từ thiên nhiên đến xã hội và cả con người.

Lộ trong một con người là hướng tư duy, là chọn cách sống, là nghề nghiệp mưu sinh…

Lộ của một xã hội, quốc gia là văn hóa của xã hội đó, là đường lối chủ trương chính sách của quốc gia đó…

Lộ của đời sống kinh tế là hệ thống giao thông (đường bộ, đường thủy, đường hàng không…), hệ thống thông tin, hệ thống mạng lưới dịch vụ thương mại, hệ thống tài chính tín dụng… Đó là những hệ thống phục vụ cho việc vận hành nền kinh tế xã hội đó.

Có thể nói, từ nhân cách của một con người, trình độ văn minh của một xã hội đến mức độ phát triển của một nền kinh tế đều tùy thuộc vào yếu tố “lộ có thông” ở mức độ nào. Và chính sự sáng tạo đổi mới tư duy của con người hình thành nên các hệ thống “lộ ở mọi lĩnh vực”, có hợp quy luật phát triển hay không.

Như vậy, nếu muốn có được “tài thông” ta phải thông nhiều hệ thống lộ khác nhau và tùy theo tình hình của các nền kinh tế khác nhau chúng ta chọn hệ thống lộ nào thực hiện trước để làm nền tảng xây dựng nên sự thông đạt các hệ thống lộ ở các lĩnh vực khác.
Trước tiên ta có thể bắt đầu bằng sự kiện mọi người cảm nhận, bức xúc nhất và dễ thấy nhất, đó là hệ thống giao thông đường bộ của nước ta. Từ đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM cho đến những xa lộ nối liền các tỉnh thành, tình trạng ách tắc giao thông xảy ra ở khắp mọi nơi đã ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế và cuộc sống của người dân.

Để có một cái nhìn bao quát và tìm nguyên nhân của vấn đề này, chúng ta có thể nhận dạng các nguyên nhân sau:

  • Hạ tầng cơ sở vật chất phát triển chậm và không đồng bộ theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Bộ, ngành và lãnh đạo địa phương không đánh giá đúng tốc độ phát triển cũng như nhu cầu xây dựng mới hệ thống giao thông, từ đó không có một sự quy hoạch đủ tầm vóc cho ngành giao thông.
  • Những luật lệ và quy định hành chính liên quan đến ngành giao thông luôn bất cập với yêu cầu. Đường cao tốc, đường quốc lộ bị đối xử như đường phố, người dân có quyền xây nhà ở, hàng quán dọc theo hai bên đường, người đi bộ, mọi phương tiện giao thông (xe chở hàng các loại xe con, xe hai bánh, xe không động cơ…), thậm chí súc vật cũng cùng di chuyển chung một con đường, từ đó làm ảnh hưởng đến tốc độ giao thông, đồng thời dễ tạo ra nhiều tai nạn.
  • Tinh thần tôn trọng luật giao thông của người dân không cao. Việc xử phạt giao thông đáng lẽ nhằm giáo dục tinh thần tôn trọng luật pháp đã bị một số người biến thành phương tiện làm ăn trục lợi riêng (xe chở vượt tải trọng, bắn tốc độ, cân xe, v.v…). Những tiêu cực trong giao thông đã trở thành thông lệ, quy ước ngành nghề, người sử dụng phương tiện, người quản lý giao thông cùng nhau phạm pháp, cùng nhau nuôi sống cho nhau, đã trở thành loại “văn hóa” của nền kinh tế xã hội chúng ta.

Thật ra những hiện tượng nêu trên chỉ là hệ quả của các nguyên nhân sâu xa hơn. Đó là vị trí, vai trò, chức năng của mạng lưới giao thông của chúng ta hiện nay được xây dựng trên một nền tảng của một nền kinh tế xã hội thời quá khứ, là nền kinh tế nông nghiệp mà người dân sống bám vào ruộng vườn.

Tiếp theo đó là thời kỳ các tuyến giao thông đều phục vụ cho mục tiêu khai thác tài nguyên của thực dân Pháp.
Kế đến là 20 năm chiến tranh ác liệt, mà mỗi bên đều xây dựng đường giao thông nhằm mục tiêu tạo nên lợi thế quân sự, ổn định dân cư trong vùng chiếm đóng của mình, đường giao thông có chức năng phục vụ chiến tranh hơn là cho phát triển kinh tế xã hội.
Đối với sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, hệ thống giao thông đường bộ luôn luôn giữ vai trò quyết định, vì sẽ quyết định những yếu tố quan trọng khác như:

  1. Sự phân bổ dân cư, mạng lưới an sinh xã hội, y tế giáo dục, v.v…;
  2. quyết định cơ cấu và phân vùng kinh tế, đồng thời cũng chỉ ra vùng nào ưu tiên phát triển, là bộ xương của nội dung quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của quốc gia.
  3. là cơ sở của các hệ thống khác như hệ thống đường sắt, đường thủy, đường hàng không, bến cảng, cửa khẩu, sân bay, hệ thống cấp năng lượng, thông tin, cấp nước, thoát nước…

Hệ thống giao thông đường bộ như móng nhà, sự phát triển kinh tế xã hội phải dựa vào nền móng này xây lên. Nếu không sẽ bị đổ vỡ.
Từ thực tế của Đồng bằng sông Cửu Long, sau ngày đất nước thống nhất, chúng ta đã đề ra chiến lược phát triển kinh tế xã hội theo từng kế hoạch năm năm. Mỗi kế hoạch năm năm đều có xây dựng thêm đường giao thông mới. Nhưng rất tiếc là từ đó đến nay các đường giao thông đa số đều xây dựng trên nền tảng của hệ thống giao thông cũ.

Đáng lý ra chúng ta phải phác họa, quy hoạch một hệ thống giao thông đường bộ mới, theo mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với một cơ cấu kinh tế xã hội mới, phù hợp với thời đại chúng ta làm chủ đất nước.

Trên cơ sở hệ thống này chúng ta có kế hoạch bố trí lại dân cư, đổi thay thói quen sống theo tuyến giao thông thành cụm dân cư. Từ đó nối hệ thống đường cũ vào hệ thống mới, như thế sẽ tránh được việc phải cải tạo mở rộng đường, phải di dời, giải tỏa.

Trên những tuyến quốc lộ, liên tỉnh lộ, v.v… chúng ta có những đường ngang dẫn đến các cụm dân cư, thị trấn gần đó, như vậy chúng ta không còn vấn nạn dân cư dọc tuyến chạy suốt như hiện nay.

Từ lập luận nêu trên, chúng ta xem xét và thử phác họa một hệ thống giao thông cho Đồng bằng sông Cửu Long gồm 13 tỉnh với 18 triệu dân trên 40.000 km2); nơi được coi là có nhiều cái “nhất” trong cả nước: Vùng sản xuất nông nghiệp nhất nước, xuất khẩu gạo nhất nước, xuất khẩu thủy hải sản nhất nước.

Nhưng điều nghịch lý là Đồng bằng sông Cửu Long cũng là vùng có trình độ giáo dục kém nhất nước (học sinh bỏ học nhiều nhất) và mạng lưới giao thông tệ nhất nước.

Hệ thống giao thông tại Đồng bằng sông Cửu Long không đáp ứng được yêu cầu. Từ TP.HCM đến thành phố Cần Thơ chỉ 170km nhưng phải mất bốn giờ xe (do nạn kẹt đường, hạn chế tốc độ). Thị xã Vị Thanh là trung tâm hành chính kinh tế văn hóa của tỉnh Hậu Giang, vị trí là trung tâm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhưng lại kém phát triển nhất, vì hệ thống giao thông cũ đã biến nơi đây thành vùng sâu vùng xa.

Với kim ngạch xuất khẩu hằng năm trên 2 tỉ USD, Đồng bằng sông Cửu Long nếu có được một hệ thống giao thông tốt, nguồn nguyên liệu nông sản trên có thể đưa nhanh đến cơ sở chế biến, hay thị trường tiêu thụ thì giá trị gia tăng của nó có thể tăng thêm 20%. Chỉ riêng khoản tiền này cũng đủ cho thấy một hệ thống giao thông đường bộ mới là cần thiết biết bao.

Nhìn từ bản đồ của Đồng bằng sông Cửu Long, chúng ta có thể xây dựng một đường cao tốc từ TP.HCM đến Cà Mau theo hướng tuyến ngắn nhất (khoảng 250km – 280km) với tốc độ cho phép là 120km/giờ, sau đó nối các tuyến đường hiện có với trục cao tốc này. Tiếp theo là xây dựng các tuyến đường đến các trung tâm sản xuất và đầu mối giao thông thủy của các tỉnh, đồng thời qua đó xây dựng nên các cụm dân cư, thị trấn mới… để chuẩn bị cho sự tái bố trí dân cư với một cơ sở hạ tầng xã hội đầy đủ (y tế, giáo dục, thông tin, văn hóa, thể thao…).

Mặt khác cần quy hoạch lại hệ thống giao thông thủy kết hợp với công tác thủy lợi và bảo vệ môi trường mặt nước thiên nhiên. Những dòng sông không phải là tuyến giao thông thủy thì không được sử dụng phương tiện ghe thuyền cơ giới để bảo vệ sinh thái cho các loài thủy sản.
Như vậy vùng Đồng bằng sông Cửu Long không những sẽ phát triển nhanh về kinh tế, một nông thôn mới sẽ xuất hiện, mà còn giữ gìn được môi trường thiên nhiên. Và từ mô hình thí điểm này chúng ta có thể có bài học cho cả nước.

Ý tưởng xây dựng một hệ thống giao thông đường bộ mới làm nền tảng cho một chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong thế kỷ XXI không phải là vấn đề khó, vì bài học đó đã có sẵn ở các nước đã phát triển. Ở nước ta, “lộ không thông” không phải do thiếu tiền, mà do ách tắc trên hệ thống “lộ tư duy”. Nếu đã thông được hệ thống này thì không những ta có được hệ thống giao thông mới đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của nước ta, mà mọi ách khác sẽ tự nó thông suốt.

Điều này như bài toán thiếu lương thực của 20 năm trước, chỉ cần thừa nhận điều sai để mạnh dạn đổi mới là mọi “hệ thống lộ” nêu trên đều mở ra, nền kinh tế nước ta sẽ bước lên một tầm cao mới trông thấy.

Sống Hạnh Phúc Kiến Tạo

X